Luận án Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

PTKTBV nhấn mạnh đến khả năng phát triển liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ở những lĩnh vực khác, nhất là thiên nhiên và xã hội. Phát triển kinh tế mà làm hủy hoại môi trường là phát triển không bền vững, phát triển mà chỉ dựa vào những loại tài nguyên có thể cạn kiệt (mà không lo trước đến ngày chúng cạn kiệt) là phát triển không bền vững. Chẳng hạn, trữ lượng dầu mỏ thế giới theo một số tính toán chỉ có thể khai thác được khoảng 50 - 60 năm nữa; trữ lượng than đá thì còn khoảng trên dưới 120 năm nữa. Vậy, nếu các ngành kinh tế chỉ dựa vào những nguồn năng lượng này thì không thể bảo đảm tính bền vững lâu dài được. Đồng thời muốn kéo dài sự tồn tại của các ngành kinh tế dựa vào các nguồn năng lượng hóa thạch thì chỉ có thể là phải sử dụng tiết kiệm chúng hoặc là tìm nguồn năng lượng thay thế. Ngoài ra, có quan điểm còn cho rằng, mô hình phát triển kinh tế mà để phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực (như FDI) cũng là khó bền vững, vì nguồn ấy có nhiều rủi ro, không chắc chắn. Nói ngắn gọn, phát triển kinh tế là không bền vững nếu nó thật "nóng", không thể giữ lâu, nền kinh tế chóng rơi vào khủng hoảng, hay ít nhất cũng chậm lại trong tương lai. Không thể chối cãi: "phát triển kinh tế bền vững" là một khái niệm một phạm trù đang được toàn thế giới lưu tâm. "Phát triển kinh tế bền vững” có nội hàm rất rộng, mỗi thành tố trong đó đều có một ý nghĩa riêng. Một mẫu hình PTBV là mỗi địa phương, vùng, quốc gia…không nên thiên về thành tố này và xem nhẹ thành tố kia. Vấn đề là áp dụng nó như thế nào ở các cấp độ trên và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nhưng chỉ để ý đến liên hệ giữa môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và tăng trưởng kinh tế là chưa toàn diện, chưa bao quát hết nội hàm của khái niệm "bền vững" trong phát triển kinh tế. Khái niệm đó sẽ toàn diện và toàn vẹn hơn nếu được áp dụng vào hai thành tố nòng cốt khác của phát triển, đó là văn hóa và xã hội. Để chuyển hoá khái niệm PTKTBV từ cấp độ lý thuyết áp dụng vào thực tiễn, khái niệm cần được làm sáng tỏ sau đó áp dụng trực tiếp đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội.

pdf14 trang | Chia sẻ: ducpro | Ngày: 30/10/2012 | Lượt xem: 6224 | Lượt tải: 66download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận án Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -------*****------- NGUYỄN HỮU SỞ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh tế chính trị Mã số : 62 31 01 01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI - 2009 Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Phan Huy Đường; 2. TS. Trần Anh Tài. Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh, Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường. Phản biện 2: PGS.TS. Lê Huy Đức, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Phản biện 3: PGS.TS. Lê Bộ Lĩnh, Uỷ ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Quốc hội. Luận án được bảo vệ trước Hội đồng cấp nhà nước chấm luận án tiến sĩ họp tại trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, vào hồi 16 giờ 30, ngày 24 tháng 5 năm 2009. Tại Hội trường 406 nhà E4 Trường ĐH Kinh tế - ĐHQGHN, 144 đường Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội. iCó thể tìm hiểu luận án tại: + Thư viện Quốc gia Việt Nam + Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội. . DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. “Thách thức về giảm nghèo đối với mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam”, Tạp chí Lao động và Xã hội, Số 313 + 314, tháng 9 và 10 năm 2008. 2. “Xoá đói giảm nghèo trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam” (tham gia), Đề tài khoa học đặc biệt cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, Mã số: KQ-06-05, nghiệm thu năm 2008. 3. “Toàn cầu hoá, tăng trưởng và đói nghèo trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới”, Tạp chí Cộng sản, Số 782, tháng 12 năm 2007. 4. “Nỗ lực ổn định khí hậu toàn cầu”, Tạp chí Cộng sản, chuyên san Hồ sơ Sự kiện, Số 21, năm 2007. 5. “Môi trường tự nhiên với tăng trưởng kinh tế ở nước ta”, Đề tài khoa học cấp trường, Mã số: KT-06.04, nghiệm thu năm 2007. 6. “Hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Số 6, năm 2003. Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2009 NGƯỜI KÊ KHAI Nguyễn Hữu Sở 1 Lời nói đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài PTKTBV nhấn mạnh đến khả năng phát triển liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ở những lĩnh vực khác, nhất là thiên nhiên và xã hội. Phát triển kinh tế mà làm hủy hoại môi trường là phát triển không bền vững, phát triển mà chỉ dựa vào những loại tài nguyên có thể cạn kiệt (mà không lo trước đến ngày chúng cạn kiệt) là phát triển không bền vững. Chẳng hạn, trữ lượng dầu mỏ thế giới theo một số tính toán chỉ có thể khai thác được khoảng 50 - 60 năm nữa; trữ lượng than đá thì còn khoảng trên dưới 120 năm nữa... Vậy, nếu các ngành kinh tế chỉ dựa vào những nguồn năng lượng này thì không thể bảo đảm tính bền vững lâu dài được. Đồng thời muốn kéo dài sự tồn tại của các ngành kinh tế dựa vào các nguồn năng lượng hóa thạch thì chỉ có thể là phải sử dụng tiết kiệm chúng hoặc là tìm nguồn năng lượng thay thế. Ngoài ra, có quan điểm còn cho rằng, mô hình phát triển kinh tế mà để phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực (như FDI) cũng là khó bền vững, vì nguồn ấy có nhiều rủi ro, không chắc chắn. Nói ngắn gọn, phát triển kinh tế là không bền vững nếu nó thật "nóng", không thể giữ lâu, nền kinh tế chóng rơi vào khủng hoảng, hay ít nhất cũng chậm lại trong tương lai. Không thể chối cãi: "phát triển kinh tế bền vững" là một khái niệm một phạm trù đang được toàn thế giới lưu tâm. "Phát triển kinh tế bền vững” có nội hàm rất rộng, mỗi thành tố trong đó đều có một ý nghĩa riêng. Một mẫu hình PTBV là mỗi địa phương, vùng, quốc gia…không nên thiên về thành tố này và xem nhẹ thành tố kia. Vấn đề là áp dụng nó như thế nào ở các cấp độ trên và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nhưng chỉ để ý đến liên hệ giữa môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và tăng trưởng kinh tế là chưa toàn diện, chưa bao quát hết nội hàm của khái niệm "bền vững" trong phát triển kinh tế. Khái niệm đó sẽ toàn diện và toàn vẹn hơn nếu được áp dụng vào hai thành tố nòng cốt khác của phát triển, đó là văn hóa và xã hội. Để chuyển hoá khái niệm PTKTBV từ cấp độ lý thuyết áp dụng vào thực tiễn, khái niệm cần được làm sáng tỏ sau đó áp dụng trực tiếp đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Nhiều công trình nghiên cứu khác đã đi sâu nghiên cứu hệ thống và công phu về PTBV. Tuy nhiên, như trên đã phân tích, PTBV có nội hàm rất rộng, bao gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố trong đó đều có một ý nghĩa riêng. Bởi vậy, các nghiên cứu chuyên biệt về PTKTBV đang chưa được thực hiện một cách thật hệ thống, nhất là đặt nó trong mối liên hệ tương tác với các thành tố quan trọng khác của PTBV. Mặt khác, thực tiễn phát triển kinh tế của Việt Nam đã bộc lộ những dấu hiệu của tính không bền vững. Từ những lý do trên, Luận án đã được lựa chọn với đề tài “Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam”. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Từ giữa thập niên 80 thế kỷ XX, "phát triển bền vững về kinh tế" đã trở thành một đề tài được thế giới loài người không những quan tâm đặc biệt, mà còn tập trung nhiều trí tuệ để giải quyết các vấn đề của nó. Cội nguồn của sự xuất hiện vấn đề và ngày càng trở nên bức thiết mang tính toàn cầu là ở chỗ, nó phản ánh sự quan ngại đối với một số quốc gia muốn tăng trưởng kinh tế quá nhanh, tạo bước đi vội vã, chọn cách phát triển thiển cận, miễn sao tăng thu nhập hiện tại cho nhanh, mà không để ý đến những nguy hại dài lâu của lối phát triển ấy đến môi trường sinh thái (tàn phá rừng, sa mạc hóa...), đến trữ lượng hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên (quặng mỏ, dầu hỏa, khí đốt), đến tình trạng khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo. "Phát triển kinh tế bền vững” là khái niệm mới ở Việt Nam. Tiến hành xây dựng và thao tác hoá khái niệm này phù hợp với thực tiễn đất nước và bối cảnh thế giới hiện nay sẽ có ý nghĩa quan trọng. Các nghiên cứu khoa học môi trường, khoa học xã hội, trong đó đặc biệt là kinh tế học, xã hội học và luật học đã có những đóng góp nhất định cho việc hoàn thiện hệ thống quan điểm lý luận về PTKTBV ở nước ta trong những thập niên sắp tới. Trong một công bố trên Tạp chí Xã hội học (2003) của tác giả Bùi Đình Thanh với tiêu đề "Xã hội học Việt Nam trước ngưỡng của thế kỷ XXI", tác giả cũng chỉ ra 7 hệ chỉ báo cơ bản về PTBV: Chỉ báo kinh tế, xã hội, môi trường. Khái niệm “phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90. Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ. Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh. Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể đến là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như "Tiến tới 2 môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Công trình này đã tiếp thu và thao tác hoá khái niệm PTBV theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật. "Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và PTBV, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành. Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí PTBV của Brundtland và kinh nghiệm các nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về PTBV đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường. Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí PTBV cho Việt Nam. Công trình nghiên cứu "Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho PTBV. Công trình này đã xác định PTBV qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hoá đã tổng quan nhiều mô hình PTBV như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987), mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của World Bank. Ngoài ra, trong giới khoa học xã hội còn có các công trình như "Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp" (1997) của Phạm Xuân Nam. Trong công trình này, tác giả làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan điểm PTBV: Phát triển xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, văn hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này có một điểm chung là thao tác hoá khái niệm PTBV theo Brundtland. Tuy nhiên, cần nói thêm rằng, những thao tác này còn mang tính liệt kê, tính thích ứng của các chỉ báo với thực tế Việt Nam, cụ thể là ở cấp độ địa phương, vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vẫn chưa được làm rõ. Tiếp theo là Đề tài cấp Bộ “Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động” của PGS.TS. Hà Huy Thành (chủ nhiệm), Viện nghiên cứu Môi trường và PTBV là cơ quan chủ trì thực hiện. Đề tài đã nghiên cứu tổng quan nội dung cơ bản và quá trình hình thành và phát triển của khái niệm, khung khổ, chương trình hành động, chỉ tiêu PTBV của Liên hợp quốc và các quốc gia, khu vực trên thế giới. Trên cơ sở đó, rút ra những bài học về PTBV phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Trong “Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam có đưa ra nhiều vấn đề cần ưu tiên để thực hiện PTBV, trong đó 5 lĩnh vực cần được ưu tiên để PTBV về kinh tế, đó là: duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững; thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường; thực hiện quá trình công nghiệp hóa sạch; phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững; PTBV các vùng và địa phương. Trong bài “Bàn thêm về PTBV” đăng trên Tạp chí nghiên cứu PTBV số tháng 6/2006 của Bùi Tất Thắng, Viện chiến lược – Bộ Kế hoạch và đầu tư, đã phân tích PTBV về mặt kinh tế để thực hiện PTBV là tốc độ tăng trưởng phải cao và quan trọng là có sự thay đổi cơ cấu kinh tế, cùng với việc nâng cao đời sống của dân chúng và bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên… Lê Bảo Lâm với tác phẩm “Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế dài hạn: Lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam” (2007) và một số các tác phẩm khác của các tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, “Kinh tế – xã hội Việt Nam hướng tới chất lượng tăng trưởng hội nhập phát triển bền vững”; Nguyễn Văn Thương, “Tăng trưởng kinh tế Việt Nam - những rào cản cần vượt qua”; Phạm Ngọc Trung, “Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam”;…cũng chỉ nghiên cứu và bàn luận đến những vấn đề xoay quanh việc sử dụng các nhân tố được chú ý và cần phải tiếp tục sử dụng một cách có hiệu quả để nhằm tạo ra sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam. Các vấn đề đã được nghiên cứu trong nhóm các tác giả trên cũng chỉ mới đưa ra, một cách rời rạc và chưa có tính chất hệ thống lý thuyết về sự PTKTBV, chỉ đưa ra những phân tích, đánh giá về vấn đề xã hội, hay môi trường và một số tiêu chí trong nghiên cứu sự phát triển một cách “bền vững” đối với Việt Nam. Trong tác phẩm “Phát triển bền vững của Việt Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng”, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội – 2007, GS.TSKH. Nguyễn Quang Thái và PGS.TS. Ngô Thắng Lợi đã nghiên cứu, phân tích thực trạng phát triển của kinh tế xã hội của Việt Nam trong thời gian đổi mới, phân tích những yếu tố hay điều kiện để có thể giúp Việt Nam đạt được những tiến bộ khả quan để thực hiện PTBV, trong đó có đề cập đến những nội dung của vấn đề tăng trưởng với chất lượng cao thể hiện ở những tiêu chí như xác định cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ 3 cấu kinh tế theo hướng tiến bộ. Mặc dù, chưa đề cập trực tiếp đến khái niệm PTKTBV nhưng cũng đã đưa ra những tiêu chí và nội dung của PTKTBV. Tuy nhiên, đánh giá thật công bằng thì các nghiên cứu hiện có chưa đề cập sâu đến PTKTBV, cũng như đánh giá mức độ tác động của PTKTBV trong mối quan hệ đối với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm bền vững về mặt xã hội, văn hóa..., từ đó, khẳng định vai trò quyết định của PTKTBV đến PTBV nói chung, đưa ra những kết luận về nội dung cũng như tiêu chí của PTKTBV. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: nền kinh tế quốc dân cùng với các vùng, ngành của nó trong quãng thời gian tương đối thuần nhất để làm rõ động thái, khuynh hướng của nó dưới lăng kính của PTKTBV. Phạm vi nghiên cứu: luận án chỉ giới hạn nghiên cứu nền kinh tế quốc dân Việt Nam dưới góc độ PTKTBV, bao gồm những vấn đề tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế xã hội, môi trường. Thời gian nghiên cứu: từ năm 1986 đến nay. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án Mục đích nghiên cứu của luận án: Luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về PTKTBV; đánh giá, phân tích thực trạng nền kinh tế quốc dân kể tử khi thực hiện mô hình kinh tế mới để chỉ ra những mặt được và chưa được trong việc thực hiện mục tiêu bền vững; đề xuất một số giải pháp cơ bản bảo đảm PTKTBV trong thời gian tới. Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định những nhiệm vụ cụ thể như sau: tổng hợp tài liệu, tư liệu đã nghiên cứu PTKTBV; tổng hợp một số kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc bảo đảm PTKTBV; sử dụng các công cụ phân tích để làm rõ những thành tựu đã đạt được cũng như những mặt còn hạn chế của kinh tế Việt Nam trong việc vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa bảo đảm tính bền vững trong tăng trưởng kinh tế; từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị để làm cho chất lượng tăng trưởng trong thời gian tới được cao và ổn định, bền vững hơn, hạn chế những tác động tiêu cực từ bên ngoài, nhất là tính chu kỳ của khủng hoảng trong kinh tế thị trường. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu áp dụng trong Luận án Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam; các thành tựu khoa học trong kinh tế chính trị nói chung và kinh tế học phát triển nói riêng. Luận án có sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp, mô tả và so sánh, mô hình hóa, kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn. 6. Những đóng góp khoa học của Luận án - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về PTKTBV, thông qua việc làm rõ các nội dung và các tiêu chí đánh giá PTKTBV. Nghiên cứu PTKTBV là để rút ra bài học cho Việt Nam trong vấn đề phát triển - Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam, luận chứng những vấn đề đang đặt ra trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược là duy trì tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững, thực sự tác động tích cực và lan tỏa đến các vấn đề văn hoá, xã hội, môi trường và có cơ cấu kinh tế phù hợp phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế. Nội dung của PTKTBV gồm cả yếu tố văn hoá, xã hội được xem là vấn đề mới. - Đề xuất quan điểm và định hướng giải pháp cơ bản để kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển bền vững. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và đào tạo trên lĩnh vực kinh tế chính trị và lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam, kinh tế học phát triển. 7. Kết cấu của Luận án: Ngoài Lời nói đầu, Danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận án được kết cấu thành 3 chương, 7 mục và 14 tiểu mục. Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế về PTKTBV. Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế của Việt Nam và những vấn đề đặt ra về phát triển bền vững. Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm PTKTBV ở Việt Nam. 4 Chương 1. Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế bền vững 1.1. Khái niệm và nội dung của phát triển kinh tế bền vững 1.1.1. Một số khái niệm và phạm trù cơ bản 1.1.1.1. Phát triển và phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là khái niệm chỉ quá trình chuyển nền kinh tề từ chậm phát triển sang nền kinh tế phát triển, chứ không phải là phát triển kinh tế với nội dung tăng trưởng kinh tế hiện đại. Một khái niệm diễn tả quá trình thay đổi về chất trong tiến trình kinh tế, đằng kia diễn tả sự tăng lên về lượng của một nền kinh tế. Không nên đồng nhất phát triển kinh tế với tăng trưởng kinh tế, dù rằng tăng trưởng kinh tế là nội dung vật chất của phát triển kinh tế. 1.1.1.2. Phát triển bền vững vàphát triển kinh tế bền vững + Phát triển bền vững: Đinh nghĩa do Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển đưa ra trong báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" (1987) dường như nhận được sự tán đồng của đa số quốc gia và nhiều nhà nghiên cứu về PTBV. Nội dung của định nghĩa này là: "Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của hiện tại song không xâm hại tới khả năng thỏa mãn của các thế hệ tương lai. Vào thời điểm đó, người ta mới chỉ nhận thấy ba yếu tố: kinh tế, xã hội và môi trường; còn một thành tố vô cùng quan trọng được tiếp tục nhận thức trong cả quá trình tiếp theo, đó là văn hóa. PTKTBV ngày nay đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc ở nước ta, thậm chí còn trở thành một quan điểm chủ đạo trong hoạch định chiến lược và chính sách phát triển của nhiều quốc gia. Vậy PTKTBV được hiểu như thế nào, theo luận án thì: - Là sự tăng trưởng về kinh tế một cách hợp lý, hiệu quả và bền vững: mà chỉ cần cao ở mức vưà phải đồng thời duy trì một cơ cấu kinh tế ngành một cách phù hợp và từng bước có sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo đúng xu thế đi lên. 1.1.1.3. Phát triển kinh tế bền vững - con đường tất yếu, hợp quy luật của phát triển Trên thực tế, sự tăng trưởng của nhiều quốc gia không những không làm cho mọi người dân được hưởng mà ngược lại còn gây ảnh hưởng xấu đến tính bền vững của sự phát triển. Để tránh được điều đó thì mục tiêu đặt ra đối với mỗi quốc gia là “tăng trưởng phải có chất lượng”, nghĩa là ngoài sự phát triển kinh tế còn bao gồm các tiêu chuẩn rộng hơn như là giảm đói nghèo, phân phối thu nhập bình đẳng, môi trường sống cần được duy trì và phát triển. Trong nội hàm của PTBV thì PTKTBV đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có ảnh hưởng chi phối đến các yếu tỗ hợp thành chỉnh thể PTBV nói chung. 1.1.2. Nội dung của phát triển kinh tế bền vững Các tiêu chí cơ bản đánh giá sự PTBV là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường. Thứ nhất, mức tăng tương đối cao. Thứ hai, tăng trưởng cần bảo đảm tính ổn định. Thứ ba, tăng trưởng cần bảo đảm chất lượng cao. + Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Là việc phát triển các ngành, lĩnh vực, vùng có lợi thế so sánh, đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu trên thế giới + Phát triển kinh tế gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội cơ bản + Phát triển kinh tế gắn với sử dụng nguồn lực hiệu quả và bảo vệ môi trường sinh thái. Việc đánh giá và đo lường mức độ PTKTBV nói chung, KTBV nói riêng là rất phức tạp, đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu Tuy nhiên, trong trường hợp không có hệ thống đầy đủ các chỉ tiêu PTBV thì có thể đánh giá qua hệ thống một số chỉ tiêu định lượng và định tính thông qua việc phân tích, đánh giá các nhân tố tác động đến PTKTBV. Chất lượng tăng trưởng thể hiện trên nhiều tiêu chí đánh giá, nhưng tựu trung là ở chỗ người dân được thụ hưởng bởi kết quả tăng trưởng đó như thế nào. Do đó chất lượng tăng trưởng có mối quan hệ hữu cơ với PTBV và PTKTBV. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với nâng cao chất lượng của tăng trưởng 1.1.3. Các điều kiện bảo đảm phát triển kinh tế bền vững 1.1.3.1. Hoạch định chiến lược và kế hoạch Về mặt lý thuyết, cương lĩnh, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch đều là phương thức can thiệp của con người, cụ thể là nhà nước nhằm hạn chế những biểu hiện bất ổn của nền kinh tế để PTKTBV, vừa bảo đảm các 5 mục tiêu chung, vừa làm cho các mục tiêu đó thíc
Luận văn liên quan