Những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ tại An Giang

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Nhờ chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà n-ớc Việt Nam đ-ợc thể hiện ở Hiến pháp “bình đẳng dân tộc trong đó có bình đẳng về ngôn ngữ”, tiếng Việt đ-ợc bảo vệ và phát triển trở thành ngôn ngữ giao tiếp chung của cả n-ớc, các ngôn ngữ của 53 dân tộc thiểu số đ-ợc bảo tồn và phát huy, thực hiện chức năng là công cụ giao tiếp trong nội bộ của dân tộc mình. Hàng loạt các vấn đề về ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã đ-ợc quan tâm nghiên cứu và đạt đ-ợc những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, đáng tiếc là, tiếng Hoa với t-cách là ngôn ngữ dân tộc thiểu số của dân tộc Hoa ở Việt Nam thì ch-a có công trình nghiên cứu đáng kể nào. Đây chính là lí do chúng tôi chọn đề tài này. Và, để có thể tập trung khảo sát sâu hơn, chúng tôi chọn địa bàn An Giang - nơi có ng-ời Hoa sinh sống làm đối t-ợng khảo sát

pdf544 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 16/12/2013 | Lượt xem: 2915 | Lượt tải: 16download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ tại An Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO VIệN KHOA HọC X∙ HộI VIệT NAM VIệN NGôN NGữ HọC -----oo0oo----- HOàNG QuốC Những đặc tr−ng ngôn ngữ học x∙ hội Của hiện t−ợng song ngữ TạI AN GIANG (trên cứ liệu cảnh huống song ngữ Việt - Hoa) Chuyên ngành : Ngôn ngữ học ứng dụng Mã số : 62.22.01.05 Tóm tắt Luận án Tiến sĩ NGÔN Ngữ HọC Hà Nội – 2009 1 PHần mở Đầu 1. Lí do lựa chọn đề tài Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Nhờ chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà n−ớc Việt Nam đ−ợc thể hiện ở Hiến pháp “bình đẳng dân tộc trong đó có bình đẳng về ngôn ngữ”, tiếng Việt đ−ợc bảo vệ và phát triển trở thành ngôn ngữ giao tiếp chung của cả n−ớc, các ngôn ngữ của 53 dân tộc thiểu số đ−ợc bảo tồn và phát huy, thực hiện chức năng là công cụ giao tiếp trong nội bộ của dân tộc mình. Hàng loạt các vấn đề về ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã đ−ợc quan tâm nghiên cứu và đạt đ−ợc những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, đáng tiếc là, tiếng Hoa với t− cách là ngôn ngữ dân tộc thiểu số của dân tộc Hoa ở Việt Nam thì ch−a có công trình nghiên cứu đáng kể nào. Đây chính là lí do chúng tôi chọn đề tài này. Và, để có thể tập trung khảo sát sâu hơn, chúng tôi chọn địa bàn An Giang - nơi có ng−ời Hoa sinh sống làm đối t−ợng khảo sát. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Thông qua khảo sát cảnh huống song ngữ Việt - Hoa ở An Giang, chúng tôi muốn tìm hiểu trạng thái song ngữ xã hội của ng−ời Hoa ở Việt Nam, nh− sự phân bố chức năng giữa tiếng Việt với tiếng Hoa (cũng nh− với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số khác). Để đạt đ−ợc mục đích trên, luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu nh− sau: (1) Hệ thống hoá những kiến thức về lí luận liên quan đến đề tài. (2) Giới thiệu một số nét khái quát về tiếng Hán và các ph−ơng ngữ Hán có liên quan đến khái niệm tiếng Hoa của ng−ời Hoa ở Việt Nam. (3) Miêu tả cảnh huống ngôn ngữ ở An Giang. (4) Khảo sát đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của ng−ời Hoa ở An Giang. (5) Khảo sát việc sử dụng ngôn ngữ của học sinh ng−ời Hoa trong nhà tr−ờng và thái độ ngôn ngữ của phụ huynh học sinh ng−ời Hoa đối với trạng thái song ngữ Việt - Hoa tại địa ph−ơng. 2 3. Đối t−ợng và giới hạn t− liệu khảo sát Đối t−ợng khảo sát là những ng−ời Hoa đang sinh sống tại An Giang. Hiện nay tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 9 huyện. Tuy nhiên, do điều kiện có hạn, chúng tôi chỉ tập trung vào một số địa bàn tiêu biểu cho trạng thái song ngữ Việt - Hoa. 4. Ph−ơng pháp và thủ pháp nghiên cứu 4.1. Ph−ơng pháp và thủ pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng ph−ơng pháp điều tra ngôn ngữ học xã hội bằng anket kết hợp với quan sát và phỏng vấn sâu; ph−ơng pháp quy nạp trong nghiên cứu, hệ thống hoá vấn đề; ph−ơng pháp phân tích định l−ợng, có sử dụng phần mềm SPSS trong xử lí t− liệu; ph−ơng pháp đối chiếu và thống kê. Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng các thủ pháp thu thập, phân tích t− liệu mà ngôn ngữ học truyền thống th−ờng sử dụng. 4.2. Mẫu nghiên cứu: Điều tra khảo sát đ−ợc lựa chọn trên mật độ c− trú của ng−ời Hoa (nơi ng−ời Hoa c− trú tập trung và nơi họ sống xen kẽ với cả ng−ời Kinh, ng−ời Khmer; và nơi ng−ời Hoa chỉ c− trú xen kẽ với ng−ời Kinh); theo giới tính, tuổi tác, nơi sinh, nơi ở, trình độ học vấn và nghề nghiệp. 5. ý nghĩa lí luận và thực tiễn 5.1. ý nghĩa lí luận: Kết quả khảo sát trạng thái song ngữ Việt - Hoa ở An Giang góp phần vào việc nghiên cứu hiện t−ợng song ngữ xã hội từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội, nh− cảnh huống ngôn ngữ, vấn đề giao tiếp trong xã hội song ngữ, sự phân bố chức năng giữa các ngôn ngữ. Cũng vậy, kết quả khảo sát về thái độ ngôn ngữ cũng nh− tình hình sử dụng ngôn ngữ của học sinh, phụ huynh ng−ời Hoa sẽ 3 góp phần vào việc nghiên cứu lí luận về chính sách ngôn ngữ - nhất là trong tình hình hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay. 5.2. ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu một mặt góp phần vào việc nghiên cứu các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam, mặt khác sẽ giúp cho Nhà n−ớc mà tr−ớc hết là lãnh đạo tỉnh An Giang có cái nhìn đầy đủ hơn về tình hình tiếng nói, chữ viết của ng−ời Hoa ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, có thể đ−a ra chính sách cũng nh− các biện pháp thực thi phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của ng−ời Hoa nói riêng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số khác nói chung. Kết quả nghiên cứu cũng giúp cho việc xem xét vấn đề giáo dục song ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc thiểu số; việc lựa chọn, đ−a một số ngôn ngữ dân tộc thiểu số vào thành môn học trong nhà tr−ờng. 6. Cái mới của luận án Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về trạng thái song ngữ Việt - Hoa của ng−ời Hoa ở Việt Nam tại An Giang. Vì thế, lần đầu tiên các vấn đề về song ngữ xã hội Việt - Hoa đ−ợc khảo sát toàn diện tại địa điểm t−ơng đối có đông ng−ời Hoa sinh sống là An Giang. 7. Bố cục của luận án Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phục lục, luận án gồm bốn ch−ơng: Ch−ơng 1. Những cơ sở lí luận liên quan đến luận án. Ch−ơng 2. Bức tranh tổng quát về ng−ời Hoa với tiếng Hoa ở An Giang. Ch−ơng 3. Năng lực ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của ng−ời Hoa ở An Giang. Ch−ơng 4. Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của học sinh ng−ời Hoa và thái độ ngôn ngữ của học sinh và phụ huynh đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong nhà tr−ờng. 4 Ch−ơng 1 Những cơ sở lý luận liên quan đến luậN án 1.1. Một số vấn đề cơ bản về hiện t−ợng song ngữ 1.1.1. Khái niệm song ngữ x∙ hội: Khái niệm song ngữ, theo cách hiểu chung nhất, đó là hiện t−ợng một ng−ời có thể biết và sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp. Hiện nay khái niệm này đã đ−ợc mở rộng. Thứ nhất, xu h−ớng ng−ời biết không chỉ hai mà trên hai ngôn ngữ ngày càng tăng, theo đó, thuật ngữ đa ngữ xuất hiện. Tuy nhiên, theo thói quen, ng−ời ta vẫn sử dụng một trong hai thuật ngữ này (hoặc song ngữ hoặc đa ngữ) cho cùng một hiện t−ợng vừa nêu. Trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “song ngữ” cũng với nghĩa nh− vậy. Thứ hai, nói đến song ngữ không chỉ nhằm đến các cá nhân song ngữ mà muốn nhằm đến song ngữ trong một cộng đồng, đó là, hiện t−ợng song ngữ xã hội. Thứ ba, yếu tố quan trọng bậc nhất liên quan đến song ngữ xã hội là phải có ng−ời song ngữ. Thứ t−, giữa khái niệm tiếng mẹ đẻ với sự hiểu biết về ngôn ngữ đ−ợc coi là tiếng mẹ đẻ d−ờng nh− không phải lúc nào cũng trùng nhau. Khái niệm tiếng mẹ đẻ còn liên quan đến ý thức tự giác tộc ng−ời của các thành viên trong xã hội. Chẳng hạn, một cá nhân có thể là dân tộc này nh−ng lại nhận ngôn ngữ khác là tiếng mẹ đẻ. 1.1.2. Nguyên nhân nảy sinh hiện t−ợng song ngữ x∙ hội: Hiện t−ợng song ngữ là hệ quả tất yếu d−ới tác động của hàng loạt các nhân tố xã hội - ngôn ngữ, nh− di dân, giáo dục song ngữ, sự cộng c− giữa các dân tộc, chính trị, kinh tế, v.v...; mối quan hệ giữa các ngôn ngữ về loại hình, cội nguồn. 1.1.3. Sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ trong x∙ hội song ngữ 1.1.3.1. Tiếp xúc ngôn ngữ: Tiếp xúc ngôn ngữ là sự tác động lẫn nhau của hai hay hơn hai ngôn ngữ. Xét về mặt lí thuyết, đây là sự tác động t−ơng hỗ, nh−ng về mặt thực tế, th−ờng là tiếng mẹ đẻ ảnh h−ởng tới ngôn ngữ đ−ợc tiếp thu sau này. 5 1.1.3.2. Giao thoa ngôn ngữ: Giao thoa ngôn ngữ th−ờng xảy ra khi có sự tiếp xúc trực tiếp giữa các tập thể, các c− dân nói các ngôn ngữ hoặc các ph−ơng ngữ khác nhau. Khi có sự giao thoa sẽ dẫn đến những biến đổi, hay nói cách khác là có hiện t−ợng chệch chuẩn ở các bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. 1.1.3.3. Vay m−ợn ngôn ngữ: là hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ, bao gồm cả tiếp xúc trực tiếp và tiếp xúc gián tiếp. Vay m−ợn ngôn ngữ, theo truyền thống chỉ đ−ợc hiểu là sự vay m−ợn do “thiếu”, tức là ngôn ngữ đi vay sẽ tiếp nhận một yếu tố của ngôn ngữ cho vay khi mà ngôn ngữ đi vay không có yếu tố này. Tuy nhiên, từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, tác giả Nguyễn Văn Khang (2006) cho rằng, vay m−ợn diễn ra không chỉ do “thiếu” mà ngay cả khi “có rồi” vẫn đi vay. Đây là lí do tạo nên sự phức tạp trong vay m−ợn. 1.1.4. Giao tiếp trong x∙ hội song ngữ: Trong xã hội song ngữ, các thành viên phải lựa chọn ngôn ngữ để giao tiếp. Th−ờng có ba kiểu: chọn một trong những ngôn ngữ, chuyển mã và trộn mã trong giao tiếp. Chọn cách giao tiếp nào là phụ thuộc vào hàng loạt các nhân tố ngôn ngữ - xã hội. 1.1.4.1. Hiện t−ợng trộn mã: là trộn các yếu tố của ngôn ngữ hoặc ph−ơng ngữ khác vào một ngôn ngữ hay ph−ơng ngữ chính dùng để giao tiếp. 1.1.4.2. Hiện t−ợng chuyển mã: là hiện t−ợng luân chuyển sử dụng ngôn ngữ hay ph−ơng ngữ trong giao tiếp của ng−ời song ngữ. 1.2. Khái niệm về cảnh huống ngôn ngữ 1.2.1. Định nghĩa cảnh huống ngôn ngữ: Có thể hiểu là “Toàn bộ các ngôn ngữ hoặc toàn bộ các hình thức tồn tại của một ngôn ngữ có quan hệ t−ơng hỗ về mặt lãnh thổ và xã hội, có sự tác động qua lại với nhau về mặt chức năng trong phạm vi một vùng địa lí hoặc một thể thống nhất về chính trị - hành chính nhất định” (Nguyễn Nh− ý, 1996). Khi nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ cần chỉ ra đ−ợc các thông số về l−ợng, chất và thái độ ngôn ngữ. Theo đó, khi khảo sát cảnh huống song ngữ cần chú ý tới trạng thái song ngữ; quan hệ t−ơng tác giữa các nhóm ngôn ngữ; các nhân tố ngoài ngôn ngữ nh− kinh tế, văn hoá, chính trị.v.v... 6 1.2.2. Giới thiệu đôi nét về cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam nói chung và ở An Giang nói riêng Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đại đa số. Do cộng c− giữa các dân tộc đã khiến cho trạng thái song ngữ ở n−ớc ta trở nên rất đa dạng. An Giang là một tỉnh đa dân tộc và đa ngôn ngữ. Trong tổng số dân 2.044.367 thì ng−ời dân tộc Kinh là 1.940.996, ng−ời dân tộc thiểu số là 103.380 cho 16 dân tộc, trong đó chủ yếu là dân tộc Chăm (12.434), dân tộc Khmer (78.706), và dân tộc Hoa (11.256) (thống kê năm 1999). Tình trạng sống đan xen giữa các dân tộc, đã tạo nên một trạng thái song ngữ phức tạp trong giao tiếp, trong tiếp xúc ngôn ngữ và trong giáo dục song ngữ. 1.3. Một số vấn đề về tiếng Hán và ph−ơng ngữ Hán liên quan đến đề tài nghiên cứu 1.3.1. Đôi nét về tiếng Hán: Tiếng Hán thuộc ngữ hệ Hán Tạng. Tiếng Hán là ngôn ngữ có thanh điệu, gồm bốn thanh và một biến thể của thanh gọi là “khinh thanh” (thanh nhẹ). Tiếng Hán lấy trật tự từ và h− từ để biểu thị ngữ pháp. 1.3.2. Phân loại ph−ơng ngữ trong tiếng Hán hiện nay: Cách phân loại loại truyền thống: tiếng Hán có 08 ph−ơng ngữ. Cách phân loại gần đây: vào những năm 80 của thế kỉ 20, viện Khoa học Xã hội Trung Quốc đã phân ph−ơng ngữ tiếng Hán làm 10 vùng ph−ơng ngữ. 1.3.3. Ph−ơng ngữ Hán và biến thể của chúng trong cộng đồng ng−ời Hoa ở An Giang: Tiếng Hoa ở An Giang gồm năm ph−ơng ngữ chính: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ. Sự khác biệt giữa các ph−ơng ngữ này đã đ−ợc phản ánh bằng sự “Việt hoá” khác nhau trong từ vựng. Ví dụ: từ canh chua trong tiếng Việt, 7 ph−ơng ngữ Quảng Đông đọc là thiến hòn; Phúc Kiến: x−ng thó; Triều Châu: x−ng hứa; và ph−ơng ngữ Hẹ đọc là sỏn thỏn. Ch−ơng 2 Bức tranh tổng quát về ng−ời Hoa Với tiếng hoA ở An Giang 2.1. Khái quát về ng−ời Hoa ở miền Nam Việt Nam 2.1.1. Vị trí của ng−ời Hoa ở Việt Nam: Ng−ời Hoa ở Việt Nam đ−ợc xác định là “những ng−ời gốc Hán và những ng−ời thuộc dân tộc ít ng−ời ở Trung Quốc đã Hán hoá di c− sang Việt Nam và con cháu của học đã sinh ra, lớn lên tại Việt Nam, đã nhập quốc tịch Việt Nam, nh−ng vẫn còn giữ những đặc tr−ng văn hoá, chủ yếu là ngôn ngữ, phong tục tập quán của dân tộc Hán và tự nhận mình là ng−ời Hoa” (Chỉ thị số 62- CT/TW ngày 08 -11 -1995 của Ban Bí th− Ban Chấp hành Trung −ơng ĐCS Việt Nam). Ng−ời Hoa ở Việt Nam một mặt hoà nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mặt khác vẫn bảo tồn và phát huy đ−ợc bản sắc văn hoá, ngôn ngữ riêng của mình, góp phần làm phong phú, đa dạng hoá nền văn hoá của Việt Nam. 2.1.2. Các tên gọi khác nhau đối với ng−ời Hoa: Ng−ời Hoa mang nhiều tên gọi khác nhau tuỳ theo từng thời kỳ khác nhau. Đáng chú ý là: Thời Pháp thuộc, ng−ời Hoa có các tên gọi là Hán, Minh H−ơng, Trung Quốc, Hoa Kiều; Thời Mỹ Nguỵ, ng−ời Hoa lại có thêm gọi: Việt gốc Hoa. Từ khi N−ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời (1945) đến nay, trong các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà n−ớc ta đều gọi là ng−ời Hoa. 2.1.3. Lịch sử di dân của ng−ời Hoa vào miền Nam Việt Nam: Do biến động về lịch sử, chính trị ở Trung Quốc, ng−ời Hoa có bốn lần di c− lớn sang c− trú ở miền Nam Việt Nam, đó là: vào năm 1679; vào đầu thế kỷ thứ XVIII; vào thế kỷ thứ XIX; vào năm 1949. 2.1.4. Dân số và phân bố dân c− của ng−ời Hoa ở miền Nam Việt Nam: Ng−ời Hoa ở Việt Nam có 862.371 ng−ời (số liệu thống kê năm 1999), phân bố khắp các tỉnh, thành phố của Việt Nam, nh−ng phần lớn tập trung tại miền Nam Việt Nam và đông nhất là tại thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 54,5%). Địa bàn c− trú của ng−ời Hoa hết sức đa dạng, nh−ng tập trung chủ yếu ở thành phố, thị xã, thị tứ. 8 2.2. Khái quát về ng−ời Hoa ở An Giang 2.2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên và x∙ hội tỉnh An Giang 2.2.1.1. Đặc điểm địa lí tự nhiên: Tỉnh An giang nằm ở vĩ tuyến 1000 và 1100 vĩ bắc, giữa kinh tuyến 1040,70’ và 1050,50’ kinh đông, ở phía Tây Nam của n−ớc Việt Nam, phía Bắc giáp n−ớc Campuchia với đ−ờng biên giới dài gần 100 km, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía Nam giáp tỉnh Cần Thơ và phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp. 2.2.1.2. Đặc điểm về kinh tế xã hội: An Giang có nền kinh tế đặc thù là sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. An Giang là một trong 13 tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long có núi, sông chảy qua (sông Tiền, sông Hậu), biên giới và cũng là tỉnh duy nhất ở đồng bằng sông Cửu Long có 17 dân tộc cùng chung sống, trong đó có 4 dân tộc chiếm dân số đông là dân tộc Kinh, Khmer, Hoa và Chăm. 2.2.2. Khái quát về ng−ời Hoa ở An Giang 2.2.2.1. Ng−ời Hoa ở An Giang trong lịch sử: Dân số tỉnh Châu Đốc năm 1901 là 145.399 ng−ời, trong đó có: 1.816 ng−ời Hoa và 1.944 ng−ời Minh H−ơng (Hoa lai). Năm 1921, hai tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên có số dân là 397.000 ng−ời, trong đó có 5.040 ng−ời Hoa. Năm 1926, ng−ời Minh H−ơng ở Châu Đốc là 2.215, ng−ời Trung Quốc là 2.178, còn ở An Giang là 1.850 ng−ời Minh H−ơng và 2.201 ng−ời Trung Quốc. Sau khi thống nhất đất n−ớc (1975), tỉnh An Giang và Châu Đốc lại lần nữa hợp thành tỉnh An Giang: năm 1976, có 1367.335 ng−ời, ng−ời Hoa chiếm 1,2%; năm 1979, có 1.532.382 ng−ời, ng−ời Hoa chiếm 1,06% (giảm so với năm 1976); năm 1983, có 17.000 ng−ời Hoa. Năm 1989 dân số An Giang là 1.773.666 ng−ời, trong đó ng−ời Hoa chiếm 1,01% (giảm so với năm 1979). 9 2.2.2.2. Ng−ời Hoa ở An Giang hiện nay: Theo thống kê năm 1999, ng−ời Hoa ở An Giang là 11.256 ng−ời, chiếm 0,55% dân số toàn tỉnh. Theo số liệu thống kê của Ban dân tộc và tôn giáo tỉnh năm 2005, dân số ng−ời Hoa ở An Giang là 14.089 ng−ời, chiếm 0,63% (tăng so với năm 1999). Số dân tuy ít nh−ng ng−ời Hoa phân bố khắp tỉnh An Giang, cộng c− cùng với các dân tộc Kinh, Khmer, Chăm. 2.2.3. Khái quát về đời sống ng−ời Hoa ở An Giang 2.2.3.1. Đời sống kinh tế: Ng−ời Hoa An Giang sinh sống bằng nhiều nghề khác nhau, nh−ng thế mạnh của họ trong hoạt động kinh tế vẫn là buôn bán. 2.2.3.2. Đời sống văn hoá- xã hội: Gia đình truyền thống Hoa theo chế độ phụ hệ, con cái mang họ cha. Khi kết hôn, ng−ời Hoa không lấy ng−ời cùng họ, yếu tố thân tộc đ−ợc coi trọng và là mối dây liên kết những ng−ời cùng họ với nhau qua nhiều thế hệ. 2.2.3.3. Dòng họ: Nhiều dòng họ ng−ời Hoa sống tập trung và c− trú lâu đời trong tỉnh nh− các họ: Lâm, Lý, Trần, Tăng, L−u, La, L−ơng, Ngô, Quách, Hà, Thôi, Tống, Nguyên, Trang, Tô, Giang. Quan hệ dòng họ đ−ợc gắn kết qua các buổi cúng giỗ tổ tiên. 2.2.3.4. Tín ng−ỡng- tôn giáo: Ng−ời Hoa ở Việt Nam ngoài tín ng−ỡng đa thần, còn thể hiện niềm tin vào vật linh. Một số ng−ời Hoa cũng theo một số tôn giáo nh− Phật giáo, Công giáo và Tin Lành. 2.2.3.5. Phong tục, tập quán, văn hoá dân gian: Phong tục tập quán của ng−ời Hoa ở An Giang vừa thể hiện đặc điểm của văn hoá truyền thống, vừa có sự giao l−u với ng−ời Việt và ng−ời Khmer. 2.2.3.6. Truyền thống yêu n−ớc và cách mạng: Ng−ời Hoa trong tỉnh đoàn kết, gắn bó với các dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, và cùng nhau đấu tranh chống lại thiên tai địch hoạ và giặc ngoại xâm, bảo vệ biên giới Tây Nam của tổ quốc. 3. 2.4. Khái quát về tiếng Hoa ở An Giang 10 3.2.4.1. Tiếng Hoa của ng−ời Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long: đ−ợc chia thành năm nhóm ph−ơng ngữ, gồm: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc kiến, Hải Nam và Hẹ (Hakka). 3.2.4.2. Khái quát về tiếng Hoa của ng−ời Hoa ở An Giang: Ng−ời Hoa ở An Giang cũng thuộc năm ph−ơng ngữ khác nhau, đó là: Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ. Ch−ơng 3 năng lực ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của ng−ời Hoa ở An Giang 3.1. Giới hạn đối t−ợng khảo sát Tổng số đối t−ợng điều tra là 1071 ng−ời, đ−ợc phân bố ở các địa bàn c− trú nh− sau: Long Xuyên: 176 ng−ời, Châu Đốc: 298 ng−ời; Tân Châu: 138 ng−ời; Châu Phú: 77 ng−ời; Châu Thành: 67 ng−ời; Thoại Sơn: 109 ng−ời; Tịnh Biên: 112 ng−ời; Tri Tôn: 94 ng−ời. 3.2. ý thức tự giác tộc ng−ời và vấn đề tiếng mẹ đẻ của ng−ời Hoa ở An Giang 3.2.1. Vấn đề ý thức tự giác tộc ng−ời: Mặc dù 1071 ng−ời (hộ) đ−ợc điều tra đều có nguồn gốc là ng−ời Hoa, nh−ng khi hỏi về thành phần dân tộc của họ thì 919 ng−ời tự khai là dân tộc Hoa, 140 ng−ời dân tộc Kinh, 12 ng−ời dân tộc Khmer. Trong số 919 tự nhận, gồm: 140 ng−ời Quảng Đông; 457 ng−ời Triều Châu; 26 ng−ời Phúc Kiến; 225 ng−ời Hẹ và 6 ng−ời Hải Nam; 65 ng−ời không trả lời. 3.2.2. Vấn đề tiếng mẹ đẻ 3.2.2.1. Khái quát về tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của ng−ời Hoa: tiếng Quảng Đông là 99 ng−ời, chiếm 10,9%; tiếng Triều Châu là 323 ng−ời, chiếm 35,5%; tiếng Phúc Kiến là 18 ng−ời, chiếm 2,0%; tiếng Hẹ là 157 ng−ời, chiếm 17,3%; tiếng Hải Nam là 05 ng−ời, chiếm 0,5%. Kết quả cho thấy, số ng−ời chủ động nhận tiếng mẹ đẻ là đa số, gồm 602 ng−ời, chiếm 66,2%. Số ng−ời không có ý kiến gì là 317 ng−ời, chiếm 33,8% (Xem bảng 3.10, phần Phụ lục). 11 3.2.2.2. Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của ng−ời Hoa từ góc độ giới tính: Nam giới ng−ời Hoa tự nhận tiếng Hoa là tiếng mẹ đẻ cao hơn nữ giới (nam: 62,5% > nữ 47,6%) (Xem bảng 3.11, phần Phụ lục). 3.2.2.3. Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của ng−ời Hoa từ góc độ tuổi tác: Ng−ời Hoa ở nhóm tuổi 40 - 60 tự nhận tiếng Hoa là tiếng mẹ đẻ chiếm tỉ lệ cao hơn cả (chiếm 74,0%) (Xem bảng 3.12, phần Phụ lục). 3.2.2.4. Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của ng−ời Hoa từ góc độ dân tộc: 140/1071 ng−ời tự nhận mình là dân tộc Kinh, nh−ng chỉ có 93/140 ng−ời tự nhận tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ; 12/1071 ng−ời Hoa tự nhận là dân tộc Khmer, nh−ng có đến 33/1071 ng−ời (chiếm 3,1%) tự nhận tiếng Khmer là tiếng mẹ đẻ (Xem bảng 3.13, phần Phụ lục). 3.2.2.5. Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của ng−ời Hoa từ góc độ nơi sinh: Vấn đề tự nhận tiếng mẹ đẻ của ng−ời Hoa An Giang không phụ thuộc vào nơi sinh của họ (3.14, phần Phụ lục). 3.2.2.6. Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của ng−ời Hoa từ góc độ nơi ở: Ng−ời Hoa ở Châu Thành tự nhận tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ cao hơn so với các địa bàn khác (Xem bảng 3.15, phần Phụ lục). 3.2.2.7. Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của ng−ời Hoa từ góc độ học vấn: Những ng−ời có trình độ học vấn càng cao thì tỉ lệ tự nhận tiếng Hoa là tiếng mẹ đẻ càng cao (Xem bảng 3.16, phần Phụ lục). 3.2.2.8. Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của ng−ời Hoa từ góc độ nghề nghiệp: Ng−ời làm nghề buôn bán tự nhận tiếng Hoa là tiếng mẹ đẻ cao nhất (chiếm 70,5%) (Xem bảng 3.17, phần Phụ lục). 3.3. Năng lực ngôn ngữ của ng−ời Hoa ở An Giang 3.3.1. Đặt vấn đề: Khảo sát tập trung vào năng lực ngôn ngữ của ng−ời Hoa đối với tiếng Hoa, tiếng Việt và tiếng Khmer. Lí do là vì: tiếng Hoa là tiếng mẹ đẻ của ng−ời
Luận văn liên quan