Tiểu luận Thực trạng áp dụng luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam

Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Trong những năm qua, việc thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân đã đem lại những kết quả nhất định. Thuế thu nhập cá nhân áp dụng đối với người có thu nhập cao góp phần tạo nguồn thu ngày càng đáng kể cho ngân sách nhà nước, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo đang có xu hướng gia tăng, nhất là ở khu vực thành thị. Bên cạnh đó, những khoản thu từ thuế, trong đó có thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, sẽ đảm bảo cho Nhà nước có khả năng cung cấp ngày càng tốt hơn các khoản chi phúc lợi xã hội, giúp cho những người nghèo cơ hội có được mức sống cải thiện hơn. Việc áp dụng thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trong nhiều năm qua đã làm cho người dân “quen” dần với loại thuế này. Tâm lí quen thuộc cùng với những hiểu biết ngày càng nhiều hơn về thuế TNCN cũng như trách nhiệm công dân trong việc thực thi nghĩa vụ thuế sẽ góp phần đáng kể cho quá trình triển khai hiệu quả Luật thuế TNCN. Bên cạnh đó, những kinh nghiệm quý trong việc thực thi thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao sẽ giúp cho các cơ quan quản lí nhà nước trong việc quản lí thu nhập và quản lý quy trình thu nộp thuế, đảm bảo hạn chế phát sinh tiêu cực trong quá trình áp dụng Luật thuế TNCN hiện nay.

doc25 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 17/12/2012 | Lượt xem: 6520 | Lượt tải: 58download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Thực trạng áp dụng luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Trong những năm qua, việc thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân đã đem lại những kết quả nhất định. Thuế thu nhập cá nhân áp dụng đối với người có thu nhập cao góp phần tạo nguồn thu ngày càng đáng kể cho ngân sách nhà nước, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo đang có xu hướng gia tăng, nhất là ở khu vực thành thị. Bên cạnh đó, những khoản thu từ thuế, trong đó có thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, sẽ đảm bảo cho Nhà nước có khả năng cung cấp ngày càng tốt hơn các khoản chi phúc lợi xã hội, giúp cho những người nghèo cơ hội có được mức sống cải thiện hơn. Việc áp dụng thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trong nhiều năm qua đã làm cho người dân “quen” dần với loại thuế này. Tâm lí quen thuộc cùng với những hiểu biết ngày càng nhiều hơn về thuế TNCN cũng như trách nhiệm công dân trong việc thực thi nghĩa vụ thuế sẽ góp phần đáng kể cho quá trình triển khai hiệu quả Luật thuế TNCN. Bên cạnh đó, những kinh nghiệm quý trong việc thực thi thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao sẽ giúp cho các cơ quan quản lí nhà nước trong việc quản lí thu nhập và quản lý quy trình thu nộp thuế, đảm bảo hạn chế phát sinh tiêu cực trong quá trình áp dụng Luật thuế TNCN hiện nay. B. NỘI DUNG I. TỔNG QUAN VỀ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ rất lâu ở các nước phát triển. Lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799 thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842. Sau đó thuê thu nhập cá nhân đã nhanh chóng được lan truyền sang các nước công nghiệp khác như: Nhập(1887), Mỹ (1913), Pháp (1914), Liên Xô (1922), Trung Quốc (1936)… Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận được thu nhập dưới bất cứ hình thái nào(hiện vât hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào(do lao động hay đầu tư…) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp cho Nhà nước dưới dạng thuế thu nhập. Như vậy, có thể khái niệm thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). 2. Sự cần thiết xây dựng luật thuế Thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập. Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tế thị trường vì thu nhập của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào việc cung cấp các yếu tố sản xuất như vốn, lao động, công nghệ… Trong điều kiện có sự phân hóa giàu nghèo khi phân phối thu nhập là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, cần áp dụng thuế thu nhập cá nhân để thực hiện điều tiết thu nhập nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Mặc khác, trong hệ thống thuế thông thường áp dụng hai loại thuế: thuế gián thu và thuế trực thu. Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, tức là đánh trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế theo khả năng của họ. Vì thế, thu nhập cá nhân đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc. Nếu chỉ áp dụng các loại thuế gián thu thì mới thực hiện được công bằng theo chiều ngang tức là tất cả mọi người đều phải nộp thuế như nhau không phân biệt khả năng của họ. Để đảm bảo sự công bằng theo cả chiều ngang và chiều dọc trong chính sách thuế khóa thì cần thiết phải ban hành thuế thu nhập cá nhân để điều tiết thu nhập theo khả năng đóng góp của người nộp thuế. Do nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của Nhà nước, sự giảm dần của thuế quan do yêu cầu tự do hóa thương mại để phát triển kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải tăng nguồn thu tài chính nhà nước thông qua các loại thuế khác như thuế hàng hóa, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Thuế thu nhập cá nhân được sử dụng như một công cụ linh hoạt đểu điều tiết vĩ mô, kích thích tiêu dùng hoặc đầu tư để phát triển kinh tế. Một trong những lý thuyết căn bản của Kenyes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập cho rằng mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp. Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối tượng có thu nhập thấp hơn. Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn giảm, ưu đãi, thuê thu nhập có thể tác động trực tiếp đến định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của Nhà nước. 3. Vai trò của thuế Thu nhập cá nhân 3.1. Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ phân phối đảm bảo công bằng xã hội Một trong những khiếm khuyết của kinh tế thị trường là sự phân phối không công bằng và đi liền với nó là quá trình phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập nhận được của từng cá nhân. Thông qua đánh thuế thu nhập cá nhân, Nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập của người cao, nhờ đó sang bằng tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội. 3.2. Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng cho Ngân sách nhà nước Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước, loại thuế này đóng vai trò rất quan trọng, đôi khi nó còn được nói so sánh hình ảnh là “nữ hoàng của các loại thuế”. Hiện nay, ở các nước phát triển tỷ trọng thu ngân sách của thuế TNCN chiếm rất cao từ 30 – 40%, có nước trên 50% như Mỹ, Nhật, Canada, Australia, Niuzilan…, các nước đang phát triển chiếm từ 15 – 30% như Thái Lan, Malaixia, Philipin… Ở nước ta thuế thu nhập cá nhân tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu NSNN, song trong điều kiện phát triển kinh tế và toàn cầu hóa, thu nhập của cá nhân có xu hướng tăng nhanh, nên tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân trong tổng thu NSNN sẽ có khả năng tăng lên. 3.3. Thuế thu nhập cá nhân góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu NSNN, thực hiện công bằng xã hội, mà còn giữ vai trò điều tiết nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, ở mỗi thời kỳ phát triển kinh tế khác nhau, tùy theo yêu cầu điều tiết vĩ mô nền kinh tế mà chính sách thu nhập cá nhân ở mỗi nước được xây dựng phù hợp. M.Keynes là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh đã đề xướng tư tưởng can thiệp của nhà nước vào hoạt động của nền kinh tế để đạt được “cầu hiệu quả” thông qua chính sách thuế, trong đó có thuế thu nhập cá nhân. Ông cho rằng, tồn tại một quy luật tâm lý cơ bản mà theo ông, con người có xu hướng tăng tiêu dùng của mình theo tốc độ tăng của thu nhập nhưng không phải tăng theo cùng mức tăng của thu nhập. Cùng với tốc độ tăng của thu nhập thì tốc độ tiết kiệm tăng nhanh hơn. Đây chính là nguyên nhân làm cho cầu không đạt hiệu quả. Bởi vậy, cần thiết phải có chính sách thuế đánh vào thu nhập đưa vào tiết kiệm để kích thích tiêu dùng và tăng đầu tư phát triển kinh doanh. Theo ông, khuynh hướng tiêu dùng ở người có thu nhập thấp sẽ cao hơn ở người có thu nhập cao. Vì vậy, nhà nước phải đánh thuế thu nhập theo kiểu thuế suất lũy tiến để phân phối lại thu nhập của những người có thu nhập cao đưa vào tiết kiệm. Sự tiết kiệm thừa cần được thu bằng thuế để định hướng chúng vào đầu tư phát triển kinh tế. 4. Nguyên tắc và phương pháp đánh thuế Thu nhập cá nhân 4.1. Nguyên tắc đánh thuế thu nhập cá nhân a/ Đánh thuế trên cơ sở thu nhập chịu thuế hiện hữu Mặc dù cá nhân có nhiều nguồn thu nhập khác nhau, nhưng trong thực tế không phải toàn bộ thu nhập phát sinh đều là đối tượng điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân. Thuế thu nhập cá nhân chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế. Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập quy định cơ sở đánh thuế thu nhập. Mọi hệ thống thu nhập dù đánh trên từng loại thu nhập hay trên tổng thu nhập nói chung đều tính thuế trên thu nhập ròng để phản ánh đúng đắn khả năng kinh tế của người nộp thuế. Vì vậy, thu nhập chịu thuế được xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi miễn trừ một số khoản chi phí của người nộp thuế. b/ Đánh thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp lũy tiến Đặc trưng quan trọng nhất của thuế thu nhập cá nhân là áp dụng biểu thuế lũy tiến, tức là mức thuế tăng lên một cách lũy tiến theo mức thu nhập tăng lên. Thuế suất lũy tiến được coi là phương pháp hiệu quả nhất để đánh thuế theo “khả năng nộp thuế” của cá nhân. Tuy nhiên trong thực tế để tính được mức lũy tiến đó là điều không đơn giản. Xung quanh vấn đề áp dụng nguyên tắc lũy tiến đối với thuế thu nhập cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, tính lũy tiến của thuế thu nhập cũng cần có giới hạn và khi áp dụng nguyên tắc lũy tiến cũng cần phân biệt nguồn gốc của các loại thu nhập để phát huy vai trò điều chỉnh của thuế thu nhập. Nhưng cũng có quan điểm cho rằng làm như vậy sẽ gây phức tạp trong việc thiết kế thuế suất, vì không nên dùng các loại thuế khác nhau cho thu nhập phát sinh từ các nguồn thu nhập khác mà nên áp dụng các khoản miễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng của thuế thu nhập hoặc áp dụng thuế lũy tiến từng phần. 4.2. Phương pháp đánh thuế thu nhập cá nhân Về lý thuyết, tồn tại ba mô hình đánh thuế thu nhập cá nhân: a/ Đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập Đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập là phương pháp áp dụng một thuế suất tương ứng cho từng nguồn thu nhập phát sinh. Tương ứng với mỗi nguồn thu nhập khác nhau, người ta tính các chi phí được trừ của từng loại thu nhập( nhiều trường hợp chi phí có thể được trừ hoặc không được trừ) và gán cho mỗi loại thu nhập đó các mức thuế suất phân biệt. Số thuế phải nộp là tổng hợp số thuế thu nhập mà người nộp thuế phải nộp theo từng nguồn. Các nhà kinh tế cho rằng, phương pháp này khó trốn thuế hơn, vì nó thu “theo sát từng nguồn thu nhập”. b/ Đánh thuế trên tổng thu nhập Phương pháp này tiến hành thuế trên tổng thu nhập, bao gồm tất cả các khoản thu nhập nhận được không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập và chi phí tạo ra thu nhập. Tổng thu nhập và tổng chi phí sẽ được xem xét trên một tổng thể và đánh thuế trên phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí. Việt phân ra từng loại thu nhập không có ý nghĩa. Do đó ưu điểm là đơn giản và có thể áp dụng được biểu thuế lũy tiến khi đánh thuế nên phương pháp này đang được áp dụng rất rộng rãi ở các nước phát triển. c/ Đánh thuế hỗn hợp Thuế thu nhập cá nhân có thể được đánh theo cách kết hợp cả hai phương pháp kể trên. Ban đầu đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập, sau đó tổng hợp tất cả các nguồn lại và đánh trùm lên tổng thu nhập một mức thuế nữa. Phương pháp này cho phép áp dụng thuế suất lũy tiến ngoài thuế suất thông thường đánh trên từng loại thu nhập. Cách đánh thuế này đảm bảo sự chính xác nhưng lại phức tạp khi tính toán. 5. Cơ sở xây dựng luật thuế thu nhập cá nhân. Mặc dù ở mỗi nước, Luật thuế thu nhập cá nhân được xây dựng khác nhau tùy theo tính đặc thù của từng nước. Bởi vậy, giữa các nước sẽ có sự khác nhau trong xác định thu nhập chịu thuế, thuế suất, miễn, giảm thuế… Tuy nhiên, khi xây dựng chính sách, luật thuế thuế thu nhập cá nhân các quốc gia đều quan tâm giải quyết các vấn đề sau đây: 5.1. Xác định thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế của một cá nhân trong ký tính thuế là tổng thu nhập trừ đi tổng các khoản được giảm trừ. Tổng thu nhập của đối tượng nộp thuế là tổng thu nhập được xác định cơ sở để tính thu nhập chịu thuế mà đối tượng nộp thuế đó kiếm được trong kỳ tính thuế. Do đó, tổng thu nhập của một đối tượng sẽ không bao gồm những khoản miễn giảm thuế. Để xác định tổng thu nhập cần phải xác định từng khoảng cấu thành tổng thu nhập theo từng loại thu nhập cụ thể, tức là xem xét tổng thu nhập được hình thành từ những nguồn nào. Tuy nhiên, không phải mọi khoản thu nhập của người nộp thuế đều đưa vào đối tượng tính thuế. Tùy theo mục đích đánh thuế mà có khoản thu nhập không đưa vào đối tượng đánh thuế. Trong thực tế, khi xây dựng các quy định tính thuế cần xác định rõ ràng những khoản nào nằm trong tổng thu nhập chịu thuế và những khoản nào nằm trong tổng thu nhập không chịu thuế. Muốn xác định thu nhập chịu thuế chính xác cần phải xem xét các khoản sau đây: - Nguồn gốc của thu nhập: + Thu nhập từ lao động + Phúc lợi của người làm công + Thu nhập từ hoạt động kinh doanh + Thu nhập từ vốn, tài sản hay gọi là thu nhập từ đầu tư + Các khoản thu nhập bất thường khác - Đánh thuế trên cơ sở cư trú hay nguồn phát sinh thu nhập 5.2. Xác định các khoản thu nhập miễn trừ Một trong những đặc điểm quan trọng của thuế thu nhập cá nhân là có tính tới hoàn cảnh của từng cá nhân cần phải được xem xét khi xác định thu nhập chịu thuế. Các khoản được giảm trừ có thể được thực hiện dưới hai dạng: miễn trừ cá nhân và miễn trừ tiêu chuẩn. Miễn trừ cá nhân được thực hiện theo phương pháp kê khai chi phí thực tế phát sinh đối với các khoản được phép giảm trừ. Đối với phương pháp này, một số khoản chi phí kê khai sẽ đòi hỏi phải có chứng từ chứng minh, một số khoản được thực hiện theo phương pháp định mức và một số khoản có thể được thực hiện theo phương pháp “giới hạn tối đa”. Thông thường, có hai loại giảm trừ cá nhân là: giảm trừ có tính chất kinh tế và giảm trừ có tính chất xã hội. Phương pháp giảm trừ tiêu chuẩn tuy không công bằng vì mức chi phí cần thiết được cân bằng giữa các đối tượng nộp thuế nhưng lại đảm bảo cho thuế thu nhập cá nhân dễ tính toán, đơn giản hơn trên cơ sở đó tiết kiệm chi phí hành thu và chi phí chấp hành, tuân thủ luật thuế. 5.3. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân Đối với thuế thu nhập cá nhân, thông thường người ta áp dụng biểu thuế suất lũy tiến. Có hai loại thuế suất lũy tiến là lũy tiến toàn phần và lũy tiến từng phần (còn gọi là thuế suất đơn nhất kết hợp với ngưỡng tính thuế). Mỗi loại thuế suất lũy tiến có hiệu quả điều tiết khác nhau, trong đó biểu thuế lũy tiến từng phần được coi là đảm bảo công bằng hơn và không gây ra mâu thuẫn “mức tăng của thuế lớn hơn mức tăng của căn cứ tính thuế” tại điểm tiếp giáp giữa hai bậc thuế. 5.4. Phương pháp quản lý thu nộp thuế Thuế thu nhập có thể được thu theo phương pháp khấu trừ tại nguồn hoặc phương pháp thu trực tiếp. - Phương pháp khấu trừ tại nguồn được áp dụng cho các khoản thu nhập phát sinh có tính chấp ổn định như thu nhập từ lương, tiền công. Theo phương pháp này, người hoặc cơ quan chi trả thu nhập phải tiến hành khấu trừ trước số thuế phải nộp của cá nhân để nộp cho cơ quan thuế, sau đó mới tiến hành chi trả phần còn lại cho người được hưởng. Cơ quan hoặc người được ủy nhiệm khấu trừ thông thường được trích lại một tỷ lệ thù lao nhất định song phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghĩa vụ khấu trừ thuế thu nhập trước khi chi trả thu nhập. - Phương pháp thu trực tiếp: Thuế thu nhập cá nhân là thuế đánh vào phần thu nhập của cá nhân, do đó để thuế thu được sát đúng với mức thu nhập của từng cá nhân thì cần để cho người nộp thuế tự khai thu nhập của mình. Đó là cơ sở ra đời phương pháp thu trực tiếp. Phương pháp thu trực tiếp được thực hiện trên cơ sở người nộp thuế tự kê khai thu nhập và gửi cho cơ quan thuế. Cơ quan thuế xác định số thuế phải nộp dự trên số liệu kê khai về thu nhập, về các khoản được phép khấu trừ, giảm trừ … kết hợp với sự thẩm tra, kiểm soát của cơ quan thuế. Phương pháp này tuy phức tạp nhưng đảm bảo tính chính xác vì khả năng tổng hợp nhiều nguồn thu nhập và gắn với hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế. II/ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM 1. Những đặc trưng cơ bản của thuế thu nhập cá nhân (TNCN) hiện nay Thuế thu nhập là sắc thuế trực thu được ban hành nhằm phân phối một phần thu nhập của các cá nhân, doanh nghiệp cho nhà nước. Thuế thu nhập thường được phân chia thành hai loại là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Thuế thu nhập doanh nghiệp có đối tượng chịu thuế là thu nhập từ hoạt động kinh doanh, mà chủ yếu là các loại hình doanh nghiệp. Trong khi đó, thuế TNCN là loại thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập của các cá nhân. Cá biệt có một số quốc gia, thuế TNCN được xác định như là một loại thuế mà chủ thể nộp thuế là hộ gia đình, hoặc nhà nước ban hành thuế thu nhập áp dụng chung cho cả doanh nghiệp và cá nhân. Thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay được quy định trong Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Do mục đích ban hành là chỉ nhằm điều tiết thu nhập đối với những cá nhân được coi là có thu nhập cao, nên phạm vi điều chỉnh của loại thuế này ở Việt Nam về cơ bản là hẹp hơn thuế TNCN ở những quốc gia khác. Ngoài những đặc trưng chung của một sắc thuế, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành có một số đặc trưng sau đây: 1.1. Thuế TNCN hiện nay hướng đến những cá nhân có thu nhập cao, với mục đích kiến tạo sự công bằng hơn là mục tiêu tăng thu ngân sách. Ngay trong phần mở đầu của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 1991 đã nêu rõ, việc ban hành sắc thuế này là để: “góp phần thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân có thu nhập cao cho ngân sách nhà nước”. Có thể nhận thấy trong suốt thời gian qua, thuế TNCN mặc dù đã qua nhiều lần sửa đổi nhưng mục đích chỉ thu thuế đối với những người có thu nhập vượt hơn hẳn mức thu nhập bình quân của một cá nhân vẫn được duy trì. 1.2. Thuế TNCN hiện nay không áp dụng đối với thu nhập có nguồn gốc kinh doanh của cá nhân. Hiện nay, thu nhập từ hoạt động kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Mặc dù các chủ thể trên đây không phải là doanh nghiệp nhưng việc quy định này có ý nghĩa như là sự khuyến khích đối với hoạt động kinh doanh của cá nhân vì thuế thu nhập doanh nghiệp không đánh thuế theo thuế suất luỹ tiến. 2. Thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN hiện nay Thời gian qua, việc thực thi pháp luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã đem lại những kết quả nhất định. Một là, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao góp phần tạo nguồn thu ngày càng đáng kể cho ngân sách nhà nước. Theo số liệu dự toán ngân sách năm 2007, số thu từ thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao nhiều gấp 3 lần tổng số thu các loại thuế về đất. Hai là, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Quy định về ngưỡng chịu thuế suất dương (tức là mức thu nhập bắt đầu phải đóng thuế với mức thuế suất lớn hơn 0%) được đánh giá là phù hợp với sự gia tăng mức thu nhập bình quân, nên thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo đang có xu hướng gia tăng, nhất là ở khu vực thành thị. Bên cạnh đó, những khoản thu từ thuế, trong đó có thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, sẽ đảm bảo cho Nhà nước có khả năng cung cấp ngày càng tốt hơn các khoản chi phúc lợi xã hội, giúp cho những người nghèo cơ hội có được mức sống cải thiện hơn. Ba là, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là sự chuẩn bị cần thiết trước khi triển khai thuế TNCN một cách toàn diện. Việc áp dụng thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trong nhiều năm qua đã làm cho người dân “quen” dần với loại thuế này. Tâm lí quen thuộc cùng với những hiểu biết ngày càng nhiều hơn về thuế TNCN cũng như trách nhiệm công dân trong việc thực thi nghĩa vụ thuế sẽ góp phần đáng kể cho quá trình triển khai hiệu quả Luật thuế TNCN trong tương lai không xa. Bên cạnh đó, những kinh nghiệm quý trong việc thực thi thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao sẽ giúp cho các cơ quan quản lí nhà nước trong việc quản lí thu nhập và quản lý quy trình thu nộp thuế, đảm bảo hạn chế phát sinh tiêu cực khi Luật thuế TNCN được triển khai thực hiện (khi đó, sẽ có số lượng chủ thể nộp thuế đông đảo hơn hiện nay, do vậy việc quản lý thuế sẽ phức tạp hơn). Bên cạnh những thành tựu đạt được, trong thời gian qua việc thực hiện pháp luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao còn bộc lộ nhiều bất cập: - Thứ nhất,
Luận văn liên quan