Đề tài Đầu tư gián tiếp nước ngoài (fii) và vấn đề kiểm soát ở Việt Nam hiện nay

Điều 3 Luật Đầu tư của Việt Nam được thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ tháng 7/2006 đã xác định: “Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác; thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”

pdf35 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 2159 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Đầu tư gián tiếp nước ngoài (fii) và vấn đề kiểm soát ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Trình bày : Nhóm 14 Đề tài ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI (FII) VÀ VẤN ĐỀ KiỂM SOÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY I. Cơ sở lý luận 1. Khái niệm đầu tư gián tiếp nước ngoài 2. Đặc điểm của FII 3. Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài II. Tình hình đầu tư gián tiếp tại Việt Nam 1. Quá trình hình thành dòng FII vào Việt Nam 2. Tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài 3. Các kênh thu hút vốn chính tại Việt Nam 4. Đánh giá CÁC NỘI DUNG CHÍNH CỦA TiỂU LUẬN III. Kiểm soát vốn đầu tư gián tiếp như thế nào 1. Kiểm soát vốn là gì 2. Vì sao phải kiểm soát vốn 3. Giá phải trả của kiểm soát vốn 4. Kiểm soát vốn tại Việt Nam – nên hay không? 5. Kiểm soát vốn như thế nào? CÁC NỘI DUNG CHÍNH CỦA TiỂU LUẬN 1. Khái niệm Điều 3 Luật Đầu tư của Việt Nam được thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ tháng 7/2006 đã xác định: “Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác; thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ FII 2. Đặc trưng cơ bản của ĐTGTNN là: o Thứ nhất, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp phát hành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hành chứng khoán o Thứ hai, nhà đầu tư không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vật chất, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong FDI. ĐTGTNN là đầu tư tài chính thuần túy trên thị trường tài chính. I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ FII 3. Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài: • Bối cảnh quốc tế (hòa bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao và môi trường pháp lý quốc tế thuận lợi • Nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài • Mức độ tự do hóa và sức cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính và sự thân thiện, thuận tiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi trường đầu tư trong nước • Sự phát triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng, của các thể chế thị trường nói chung của nước tiếp nhận đầu tư….. I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ FII Nhưng khác với FDI, vốn ĐTGTNN chịu ảnh hưởng trực tiếp mạnh hơn từ phía các nhân tố, như: • Sự phát triển và độ mở cửa của thị trường chứng khoán, chất lượng của các cổ phiếu, trái phiếu • Sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung gian • Sự phát triển và chất lượng của hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khoán, • Đặc biệt, dòng vốn ĐTGTNN sẽ chảy mạnh vào trong nước theo mức tỷ lệ thuận và cấp số nhân cùng với sự gia tăng quá trình cổ phần hóa các DNNN, doanh nghiệp tư nhân, cũng như cùng với việc nới rộng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp đó. II. TÌNH HÌNH VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP TẠI VIỆT NAM Giai đoạn 1 (1988 – 1997): là thời kỳ mở đầu tư cho dòng vốn ĐTGTNN để vào Việt Nam theo xu hướng đổi mới và mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài diễn ra trong phạm vi cả nước và tạo động lực, hy vọng chung cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trong giai đoạn này, ở Việt Nam đã có 7 Quỹ đầu tư nước ngoài được thành lập với tổng số vốn được huy động khoảng 400 triệu USD. 1. Quá trình hình thành dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam Giai đoạn 2 (1998 – 2002): là thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á khiến các dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài đổ vào châu Á bị chững lại và Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng chung của xu hướng này với việc giảm sút và thu hẹp đáng kể quy mô thu hút cảu cả FDI và FPI. Giai đoạn 3 (từ 2003 đến nay): là thời kỳ phục hồi trở lại của dòng vốn ĐTGTNN vào Việt Nam cùng với xu hướng tăng cường cải thiện môi trường đầu tư, phát triển các định chế thị trường tài chính, trong đó có lập sàn giao dịch chứng khoán ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 7/2000 và TTGDCK Hà Nội tháng 3/2005 2.1 Những tác động tích cực: Thứ nhất, trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư của xã hội Thứ hai, góp phần tích cực vào phát triển thị trường tài chính nói riêng Thứ ba, góp phần tăng cường cơ hội và đa dạng hóa phương thức đầu tư, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và thu nhập của đông đảo người dân Thứ tư, góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước theo các nguyên tắc và yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế 2. Tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài: 2.2 Một số tác động tiêu cực: Thứ nhất, làm tăng mức độ nhạy cảm và bất ổn về kinh tế có nhân tố nước ngoài Thứ hai, làm gia tăng nguy cơ bị mua lại, sáp nhập, khống chế và lũng đoạn tài chính đối với các doanh nghiệp và tổ chức phát hành chứng khoán Thứ ba, làm tăng quy mô, tính chất và sự cấp thiết đấu tranh với tình trạng tội phạm kinh tế quốc tế 3.1 Sức hút lớn của thị trường chứng khoán 3.2 Sôi động lĩnh vực bất động sản (BĐS) và hạ tầng 3. Các kênh thu hút vốn chính tại Việt Nam 4.1 Khả năng hấp thụ vốn: 4.2 Biện pháp nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế 4.2.1 Các doanh nghiệp chỉ nên thu hút vốn khi thực sự cần vốn 4.2.2 Cho phép DN huy động vốn ngoại tệ 4.2.3 Mặt khác đòi hỏi phải khắc phục tình trạng dư thừa ngoại tệ ở NHTM 4.2.4 Một vấn đề quan trọng là một mặt tăng dự trữ ngoại hối, mặt khác cần có quy chế làm cho lượng vốn này sinh lời. 4. Đánh giá III. KIỂM SOÁT VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NHƯ THẾ NÀO? Kiểm soát vốn chính là thực hiện các biện pháp can thiệp của chính phủ dưới nhiều hình thức khác nhau để tác động (hạn chế) lên dòng vốn nước ngoài chảy vào và ra khỏi một quốc gia để nhằm đạt “mục tiêu nhất định” của chính phủ. Vậy hiện nay mục tiêu của kiểm soát vốn ở nước ta là gì? Có thể trả lời ngay rằng rất tiếc là chúng ta chưa bao giờ có một hệ thống chính sách và mục tiêu nhất quán trong việc kiểm soát dòng vốn 1. Kiểm soát vốn là gì? Nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam thì phải đem ngoại tệ để đổi lấy nội tệ (VNĐ). Kết thúc quá trình kinh doanh, nhà đầu tư nước ngoài sẽ đem cả vốn lẫn lời đổi lấy ngoại tệ và mang về nước nếu muốn. Tuy nhiên vấn đề không có gì đáng nói nếu không xảy ra cùng lúc các nhà đầu tư nước ngoài (thường là các nhà đầu tư ngắn hạn) đồng loạt đổi ngoại tệ mang về nước làm cho cầu ngoại tệ tăng đột biến gây áp lực lớn lên tỷ giá. Lịch sử thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng tiền tệ bắt nguồn từ những sự việc như vậy. 2. Vì sao phải kiểm soát vốn: Thứ nhất, kiểm soát vốn nếu không khéo sẽ mâu thuẫn với pháp lệnh ngoại hối mới vừa ban hành vào tháng 12-2005, mà tinh thần chung là tự do hóa các giao dịch ngoại hối. Thứ hai, kiểm soát vốn làm chi phí giao dịch vốn (tính trên tổng qui mô dòng vốn) tăng cao và sẽ làm cho dòng vốn chuyển hướng sang các quốc gia khác Thứ ba, những cái giá phải trả như trên, đến lượt nó, có khả năng làm cho TTCK nước ta vốn đang ở vào giai đoạn khởi sắc có khả năng bị chững lại, Vì sự phát triển ổn định và lành mạnh của hệ thống tài chính, kiểm soát vốn là cần thiết, tuy nhiên các biện pháp cần phải theo nguyên tắc bất hồi tố, rõ ràng và có thể dự đoán được 3. Giá phải trả của kiểm soát vốn? Vấn đề kiểm soát vốn đối với TTCK là một vấn đề hết sức nhạy cảm và cần được cân nhắc thận trọng- Nên hay không? Và nếu nên thì nên dùng những biện pháp nào để vừa đảm bảo cho đảm bảo sự lành mạnh , bền vững của nền kinh tế , vừa không cản trở sự phát triển của TTCK. • TTCKVN hiện đang tăng trưởng nhanh chóng, kéo theo làn sóng các nhà đầu tư nước ngoài, đã đẩy giá tiền tệ trong nước và mức lạm phát lên, và kèm theo đó là nỗi sợ hãi về bong bóng chứng khoán. Nếu so với những gì đang xảy ra trên thế giới , ta có thể thấy việc sẵn sàng để ứng phó với sự đảo chiều của dòng vốn của TTCKVN là một đòi hỏi bức thiết và khá nhạy cảm hiện nay. 4. Kiểm soát vốn tại Việt Nam – nên hay không? 4.1 Bài học kinh nghiệm của Malaysia và Thái Lan Trước khi khẳng định nên hay không nên kiếm soát vốn ở VN , nếu nhìn sang các nước láng giềng của VN: Thái Lan và Malaysia. Hai bức tranh tương phản khi so sánh hiệu quả của kiểm soát vốn. Malaysia: sự kiếm soát khôn ngoan Thái Lan: sự kiểm soát ‘bồng bột” Kết luận: Có thể thấy, cùng là thực hiện kiểm soát vốn nhưng Malaysia lại đạt được những thành công kỳ diệu, trong khi Thái Lan lại vấp phải thất bại nặng nề. Do vậy, vấn đề kiểm soát vốn hay không là một bài toán không hề đơn giản. Và nếu kiểm soát vốn thì phải thực hiện như thế nào cho hiệu quả cũng là một bài toán đau đầu các nhà hoạch định chính sách. 4. Xét thực tế Việt Nam Và cho đến thời điểm này thì chính phủ Việt Nam vẫn chưa thực hiện quản lý vốn ĐTNN vào TTCKVN, tuy nhiên cá nhân nhóm nghĩ môi trường kinh tế chung cũng như sức khỏe nền kinh tế của VN chưa đủ thực hiện tự do hóa vốn. Chỉ khi thị trường vốn và các định chế tài chính hội đủ những điều kiện cần thiết thì tự do hóa vốn mới mang lại những hiệu ứng tích cực. Theo IMF những điều kiện nên được cân nhắc là: • Trình độ quản trị công ty • Chính sách tỷ giá • Mức độ mở cửa hội nhập • Việc điều hành chính sách vĩ mô • Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Nhà kinh tế học Joseph Stiglitz- người từng đoạt giải Nobel- ,cựu Chủ tịch Hội đồng Tư vấn kinh tế dưới thời Tổng thống Bill Clinton, giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) trong thời gian xảy ra khủng hoảng cũng đồng tình. Ông đã trả lời báo chí: kiểm soát vốn đang hiện đang phổ biến tại những thị trường mới nổi, và trong nhiều trường hợp thì nó lại là một điều tốt. “Cả Trung Quốc và Ấn Độ đều không cho phép vốn chảy ra ngoài mà hoàn toàn không có sự can thiệp của chính phủ. Ảnh hưởng của việc này sẽ ngăn mọi người đổ tiền vào rồi lại rút ra trong một sớm một chiều. Những biện pháp như vậy nhằm hạn chế đầu tư ngắn hạn và rút vốn khỏi Việt Nam. Việc này sẽ giúp ổn định lại dòng vốn” Ngay cả giám đốc một quỹ đầu tư nước ngoài- Ông Dominic Scriven - giám đốc Quĩ Dragon Capital cũng cho rằng: “Không một quốc gia nào ở châu Á phát triển thị trường vốn mà không có biện pháp để kiểm soát dòng vốn ĐTNN. Do đó, nếu VN không đưa ra biện pháp kiểm soát sẽ là một ngoại lệ trong khu vực. Ngay những quốc gia có thị trường vốn phát triển cũng có biện pháp giám sát luồng vốn nước ngoài. Tỉ lệ vốn đầu tư ngắn hạn của nhà ĐTNN trên TTCK VN hiện nay cao hơn tỉ lệ vốn đầu tư trung và dài hạn. Không nên khuyến khích xu hướng này vì cái mà VN cần là những đồng vốn trung và dài hạn. VN cần có những biện pháp quản lý dòng vốn ĐTNN vào TTCK trong tầm nhìn tổng thể và dài hạn của nền kinh tế” Như vậy có thể thấy, kiểm soát vốn ở Việt Nam là một điều cần thiết. Vấn đề còn lại là thực hiện như thế nào đề không gây sốc đối với nhà đầu tư và thị trường. Làm sao để thị trường chứng khoán tiếp tục phát triển nhanh, lành mạnh và bền vững, bảo đảm lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước là những vấn đề nên được cân nhắc cẩn thận. 5.1 Kiểm soát vốn trực tiếp Là việc hạn chế những giao dịch vốn, những khoản thanh toán liên quan đến giao dịch vốn và việc chuyển tiền bằng những qui định mang tính chất hành chính (như đặt ra các thủ tục kê khai...).. 5.2 Kiểm soát vốn dựa trên cơ sở thị trường Là việc hạn chế những biến động của dòng vốn và những giao dịch khác thông qua các biện pháp thị trường, chủ yếu là làm cho các giao dịch vốn phải tốn kém nhiều chi phí hơn, từ đó hạn chế (không phải ngăn cấm) các giao dịch này. 5. Kiểm soát vốn như thế nào? Trong hai biện pháp trên, cần phải hạn chế đến mức thấp nhất biện pháp kiểm soát mang tính hành chính. Ngoại trừ một số ngành nghề và lĩnh vực nhạy cảm, việc dừng lại chủ trương mở room (kiểm soát trực tiếp) đồng loạt cho các lĩnh vực như trong thời gian qua là điều mà Chính phủ cần phải xem xét lại bởi nó ảnh hưởng rất lớn đến chủ trương thu hút vốn hiện nay. Tuy nhiên, cần phải nói rằng khi tiến hành kiểm sóat vốn thì chắc chắn sẽ có mặt được và cái giá phải trả cho việc kiểm soát vốn. Vấn đề là làm sao đề hạn chế tối đa tác động xấu của chính sách kiểm sóat vốn, tăng tác động tích cực đối với thị trường tài chính. Và nếu một chính sách kiểm soát vốn được áp dụng, các nhà hoạch định chính sách nên áp dụng nó một cách từ tốn thay vì áp dụng một cách đột ngột. Những chính sách gián tiếp sẽ tốt hơn việc quản lý một cách trực tiếp. Những chính sách này nên đi theo hướng chiến lược lâu dài nhằm củng cố hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính nhằm thích ứng với nguồn đầu tư ồ ạt từ bên ngoài. Ở đây có 2 điểm mà người làm chính sách có thể cần lưu tâm: TTCK là một thị trường rất nhạy cảm với thông tin vì thế chính phủ nên có sự trao đổi trước, đối thoại với thị trường, tránh đưa ra những chính sách mà chưa có sự đối thoại sẽ khiến nhà đầu tư bị sốc, tác động không hay đến thị trường. Khi đưa ra các chính sách nên áp dụng nguyên tắc "bất hồi tố" để quản lý. Nghĩa là chỉ tác động đến những luồng vốn nước ngoài vào thị trường từ sau thời điểm ban hành chính sách, để yên cho nguồn vốn nước ngoài hiện nay. Như vậy sẽ giảm ảnh hưởng tiêu cực của thị trường trước những biện pháp kiểm soát vốn của chính phủ. Tài liệu tham khảo Báo, tạp chí: • Báo Thế giới & Việt Nam số 48 • Tạp chí Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội số 8/2006 Trang web: • • • • • • • Cảm ơn sự lắng nghe và vui lòng đóng góp ý kiến cho đề tài.
Luận văn liên quan