Đề tài Quy trình sinh sản nhân tạo cá lăng chấm (hemibagrus guttatus) tại trung tâm giống thuỷ đặc sản Nam Định

Nam Định là tỉnh nằm ở hạ lưu của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Đáy. Địa hình chủ yếu là đồng bằng ven biển. Phía Tây Bắc có một ít đồi núi thấp như: núi Gôi (Côi Sơn), núi Ngăm (Trang Nghiêm), núi Nề (Thanh Nê), núi Hồ (Hồ Sơn), núi Tiên Hương, núi Phương Nhi, núi Ngô Xá, núi Mai Sơn thuộc hai huyện Vụ Bản, Ý Yên. Đồi núi của Nam Định không cao và có dòng chảy của khe ngòi liền kề tạo nên cảnh non nước hữu tình. Phía Nam tỉnh được phù sa sông Hồng, sông Đáy bồi đắp nên miền đất này tương đối bằng phẳng, phì nhiêu. Địa hình Nam Định thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Nhìn chung, có thể chia Nam Định thành 3 vùng: Vùng đồng bằng thấp trũng: gồm các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường. Vùng đồng bằng ven biển: gồm các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng; có bờ biển dài 72 km, đất đai phì nhiêu, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển. Vùng trung tâm công nghiệp - dịch vụ: thành phố Nam Định. Nơi đây từng là một trong những trung tâm công nghiệp dệt của cả nước và là trung tâm thương mại - dịch vụ, cửa ngõ phía Nam của đồng bằng sông Hồng.

doc65 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Lượt xem: 2295 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Quy trình sinh sản nhân tạo cá lăng chấm (hemibagrus guttatus) tại trung tâm giống thuỷ đặc sản Nam Định, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
®¹I häc Th¸I nguyªn Tr­êng ®¹i häc n«ng l©m ----------e&f---------- trÇn thÞ thanh thñy Tªn ®Ò tµi: “quy tr×nh sinh s¶n nh©n t¹o c¸ l¨ng chÊm (Hemibagrus guttatus) t¹i trung t©m gièng thuû ®Æc s¶n nam ®Þnh” KHO¸ LUËN TèT NGHIÖP §¹I HäC HÖ ®µo t¹o : ChÝnh quy Chuyªn ngµnh : Nu«i trång thuû s¶n Khoa : Ch¨n nu«i – Thó y Lớp : Thủy sản - 39 Khãa häc : 2007 – 2011 Th¸i Nguyªn, n¨m 2011 ®¹I häc Th¸I nguyªn Tr­êng ®¹i häc n«ng l©m ----------e&f---------- trÇn thÞ thanh thñy Tªn ®Ò tµi: “quy tr×nh sinh s¶n nh©n t¹o c¸ l¨ng chÊm (Hemibagrus guttatus) t¹i trung t©m gièng thuû ®Æc s¶n nam ®Þnh” KHO¸ LUËN TèT NGHIÖP §¹I HäC HÖ ®µo t¹o : ChÝnh quy Chuyªn ngµnh : Nu«i trång thuû s¶n Khoa : Ch¨n nu«i – Thó y Lớp : Thủy sản - 39 Khãa häc : 2007 – 2011 Giảng viên hướng dẫn : 1. TS Lê Minh 2. Th.S Đoàn Quốc Khánh Th¸i Nguyªn, n¨m 2011 LỜI CẢM ƠN! Để hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô Lê Minh và thầy Đoàn Quốc Khánh đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực tập và thực hiện đề tài. Tôi xin chân thành cảm ơn kĩ sư Nguyễn Viết Huệ, kĩ sư Nguyễn Văn Định, kĩ sư Nguyễn Trung Kiên, cùng các cán bộ, công nhân phòng sản xuất giống Trung tâm giống thủy đặc sản Nam Định đã trực tiếp giúp đỡ, tạo điều kiện về cơ sở vật chất và trang thiết bị để đề tài của tôi được hoàn thành. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô bộ môn Nuôi trồng Thủy sản cùng các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ, đào tạo chúng tôi trong suốt quá trình học đại học tại trường. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình làm đề tài tốt nghiệp. Do thời gian thực tập, năng lực và kinh nghiệm của bản than còn hạn chế, đề tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến và bổ sung của các thầy cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp. Thái nguyên, ngày 01 tháng 08 năm 2011 Sinh viên Trần Thị Thanh Thủy MỞ ĐẦU Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương trâm " Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tế ”, thực tập tốt nghiệp là khâu cuối cùng trong toàn bộ quá trình học tập của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm nói riêng. Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường. Đây là khoảng thời gian sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tế sản xuất. Từ đó sinh viên có thể nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo. Để khi ra trường trở thành một người cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự phát triển của đất nước. Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm, được sự phân công của thầy cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở thực tập, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu quy trình sinh sản nhân tạo cá Lăng Chấm (Hemibagrus guttatus) tại Trung tâm giống thủy đặc sản tỉnh Nam Định”. Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên bản khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, tôi kính mong nhận được sự chỉ bảo và sự đóng góp quý báu của thầy cô và bè bạn đồng nghiệp để bản khóa luận này được hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn ! Thái nguyên, ngày 01 tháng 08 năm 2011 Sinh viên Trần Thị Thanh Thủy DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: Kết quả cho đẻ một số loài cá 11 Bảng 1.2: Kết quả ương từ cá bột lên cá hương của một số loài cá 12 Bảng 2.1 : Tỷ lệ thành thục cá bố mẹ tại ao nuôi vỗ 37 Bảng 2.2: Sức sinh sản của cá nuôi vỗ trong ao 38 Bảng 2.3 Tỷ lệ thụ tinh của trứng qua các đợt sinh sản 39 Bảng 2.4 : Tỷ lệ nở của cá bột ở các điều kiện nhiệt độ trung bình 41 Bảng 2.5 : Kết quả ương từ cá bột lên cá hương 15 ngày tuổi 43 Bảng 2.6: Kết quả ương cá hương 15 ngày tuổi lên cá hương 30 ngày tuổi 44 Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu theo dõi trong quá trình sinh sản 45 DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1: Quy trình sinh sản nhân tạo cá Lăng Chấm 29 Hình 2.2. Tỉ lệ dị hình của cá bột 42 DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT CBCNVC – LĐ : Cán bộ công nhân viên chức – lao động KDT : Kích dục tố LRH – a : Luteotropin Releasing Hormoned Analog DOM : Doperidom UBND : Uỷ ban nhân dân QL : Quốc lộ TSXG : Trại sản xuất giống pH : Nồng độ ion H+ trong nước Kg : Kilogam to : Nhiệt độ DO : Hàm lượng ôxi hòa tan HCG : Human Chorionic Gonadotrophin MỤC LỤC PHẦN 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1. ĐIỀU TRA CƠ BẢN 1.1.1. Điều kiện tự nhiên 1.1.1.1. Vị trí địa lý Nam Định là tỉnh nằm ở phía Đông Nam của  vùng đồng bằng sông Hồng. Phía Tây Bắc giáp tỉnh Hà Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Thái Bình, ranh giới tự nhiên là sông Hồng. Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình, ranh giới là sông Đáy. Phía Nam và Đông giáp biển. Tỉnh nằm trong tọa độ 19o54’-20o40’ Bắc và 105o55’-106o45’ Đông, cách Hà Nội khoảng 90km. Nam Định là tỉnh ở vị trí trung chuyển giữa bộ phận phía Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng và các tỉnh Bắc Trung Bộ. 1.1.1.2. Địa hình đất đai Nam Định là tỉnh nằm ở hạ lưu của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Đáy. Địa hình chủ yếu là đồng bằng ven biển. Phía Tây Bắc có một ít đồi núi thấp như: núi Gôi (Côi Sơn), núi Ngăm (Trang Nghiêm), núi Nề (Thanh Nê), núi Hồ (Hồ Sơn), núi Tiên Hương, núi Phương Nhi, núi Ngô Xá, núi Mai Sơn thuộc hai huyện Vụ Bản, Ý Yên. Đồi núi của Nam Định không cao và có dòng chảy của khe ngòi liền kề tạo nên cảnh non nước hữu tình. Phía Nam tỉnh được phù sa sông Hồng, sông Đáy bồi đắp nên miền đất này tương đối bằng phẳng, phì nhiêu. Địa hình Nam Định thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Nhìn chung, có thể chia Nam Định thành 3 vùng: Vùng đồng bằng thấp trũng: gồm các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường. Vùng đồng bằng ven biển: gồm các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng; có bờ biển dài 72 km, đất đai phì nhiêu, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển. Vùng trung tâm công nghiệp - dịch vụ: thành phố Nam Định. Nơi đây từng là một trong những trung tâm công nghiệp dệt của cả nước và là trung tâm thương mại - dịch vụ, cửa ngõ phía Nam của đồng bằng sông Hồng. 1.1.1.3. Thời tiết, khí hậu Cũng như các tỉnh trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nam Định mang khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với một mùa đông lạnh và một mùa hạ nóng ẩm, nhiều mưa. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23-24oC. Biên độ nhiệt trung bình trong năm khoảng 12,6oC. Lượng mưa phân bố khá đều trên lãnh thổ, khoảng từ 1.750 - 1.800 mm. Mưa tập trung nhiều vào mùa hạ (nhất là các tháng 7-8-9), chiếm khoảng 70% lượng mưa cả năm. Mưa trong mùa đông thường là mưa nhỏ, mưa phùn, tháng ít mưa nhất là tháng 1. Hằng năm, toàn tỉnh Nam Định  nhận được một lượng bức xạ phong phú 110-120kcal/cm2/năm, cán cân bức xạ cao trên 87 kcal/cm2/năm. Độ ẩm trung bình năm là 84%. Mặt khác, do nằm trong cùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm Nam Định thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4 – 6 cơn/năm.Thuỷ triều tại vùng biển Nam Định thuộc loại nhật triều, biên độ triều trung bình từ 1,6 – 1,7 m lớn nhất là 3,31 m và nhỏ nhất là 0,11 m. Nhìn chung, khí hậu Nam Định có các chỉ số cao về độ ẩm, ánh sáng và ít có sự phân hóa theo lãnh thổ. Đặc điểm khí hậu này thích hợp với việc phát triển trồng trọt, chăn nuôi và các hoạt động du lịch. 1.1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên * Đất  Diện tích đất tự nhiên của Nam Định là 163.740,3 ha, bao gồm các loại: đất cát (ven sông và ven biển), đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất feralit, đất sỏi đá và đất mới biến đổi. Trong đónguồn đất chủ yếu là đất dành cho nông nghiệp, chiếm khoảng 65%, đất chuyên dùng chiếm khoảng 15,4%, đất thổ cư chiếm khoảng 5,8%, đất lâm nghiệp chiếm khoảng 2,9%, còn lại là đất chưa sử dụng. Hàng năm, vùng ven biển Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng được bồi tụ ra biển với tốc độ rất nhanh, bình quân mỗi năm tiến ra biển được 80 - 120 m và cứ sau 5 năm, diện tích đất của Nam Định có khả năng tăng thêm từ 1.500 - 2.000 ha. Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của tỉnh Nam Định rất thấp (550 m2), trong khi bình quân chung của cả nước là 1.120 m2. Tuy nhiên, đặc điểm nông hóa thổ nhưỡng tạo cho đất nông nghiệp của tỉnh có khả năng thâm canh cao, nhất là cây lúa và các loại cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày. * Rừng Toàn tỉnh có hơn 4.723 ha rừng, chủ yếu là rừng phòng hộ ở các huyện ven biển để chắn sóng bảo vệ đê biển, ở các đồi trọc thuộc huyện Ý Yên, Vụ Bản và các bãi bồi ven biển. * Khoáng sản Khoáng sản của Nam Định nghèo cả về chủng loại lẫn trữ lượng. Nam Định có một số loại khoáng sản như: - Nhiên liệu: than nâu ở Giao Thuỷ, được phát triển dưới dạng mỏ nhỏ và nằm sâu dưới lòng đất; dầu mỏ và khí đốt ở thềm lục địa Giao Thuỷ. - Kim loại: có các vành phân tán Inmenit, Ziarcon, mônazit, mới chỉ tìm kiếm và phát hiện tại Hải Hậu và Nghĩa Hưng, có quy mô nhỏ. Ngoài ra, còn có quặng titan, zicôn phân bố dưới dạng vết, trữ lượng ít. - Nguyên liệu sét: bao gồm sét làm gốm sứ phân bố tại núi Phương Nhi đã được khai thác phục vụ xí nghiệp gốm sứ Bảo Đài, sét gạch ngói nằm rải rác ở các bãi ven sông như Đồng Côi (Nam Trực), trữ lượng 2 triệu tấn, Sa Cao (Xuân Trường) trữ lượng 5 – 10 triệu tấn, Hoành Lâm (Giao Thuỷ)…, sét làm bột màu có ở Nam Hồng (Nam Trực). 1.1.1.5. Giao thông, thủy lợi Giao thông qua Thành phố Nam Định tương đối thuận tiện: Có quốc lộ 10 từ Hải Phòng, Thái Bình đi Ninh Bình chạy qua và QL21A nối Nam Định với QL1A. Ngoài ra còn có các tuyến QL21B đi các huyện Trực Ninh, Hải Hậu, Giao Thuỷ, Xuân Trường, tỉnh lộ 55 đi Nghĩa Hưng, Tỉnh lộ 38A đi Lý Nhân (Hà Nam). Thành phố Nam Định còn có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua. Ga Nam Định là một trong những ga lớn trên tuyến đường sắt, thuận tiện cho hành khách đi đến các thành phố lớn trong cả nước như Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh. Nam Định có hệ thống sông dày đặc. Nhìn chung, các sông đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra biển. Các sông chảy qua địa phận Nam Định phần lớn đều thuộc hạ lưu nên lòng sông thường rộng và không sâu lắm, có quá trình bồi đắp phù sa ở cửa sông. Chịu ảnh hưởng của đặc điểm địa hình và khí hậu nên chế độ nước sông chia làm hai mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn. Vào mùa lũ, lưu lượng nước sông khá lớn, lại gặp lúc mưa to kéo dài, nếu không có hệ thống đê điều ngăn nước thì đồng bằng sẽ bị ngập lụt. Vào mùa cạn, lượng nước sông giảm nhiều, các sông chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều, khiến cho vùng cửa sông bị nhiễm mặn. Các sông lớn gồm có sông Nam Định (còn gọi là sông Đào), sông Ninh Cơ, sông Hồng. Ngoài ra, Nam Định còn có các mạng lưới sông nhỏ góp phần vào việc tưới tiêu và cung cấp nước dùng cho người dân địa phương.  1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 1.1.2.1. Tình hình kinh tế - Dân số địa phương Nam Định có diện tích là 1.676 km², bao gồm 01 thành phố và 09 huyện. Theo điều tra dân số 01/04/2009 Nam Định có 1.825.771 người, mật độ dân số là 1.196 người/km², với hơn 84% dân số sống ở khu vực nông thôn. - Tình hình phát triển kinh tế Những những năm qua kinh tế tỉnh Nam Định có bước phát triển về quy mô và hiệu quả. Trong 5 năm (2005 – 2010) tốc độ tăng trưởng bình quân tỉnh Nam định là 10,2%, cao hơn bình quân thời kỳ 2000-2005 là 7,3%. Quy mô nền kinh tế được mở rộng so với thời kỳ 5 năm trước: Tổng GDP tăng hơn 1,63 lần, GDP bình quân đầu người tăng lên 2,6 lần, giá trị sản xuất công nghiệp tăng hơn 2,5 lần, thu ngân sách từ kinh tế địa phương vượt mức 1.000 tỷ đồng (năm 2005 đạt 569,4 tỷ đồng). 1.1.2.2. Tình hình xã hội Các lĩnh vực văn hoá xã hội của tỉnh Nam Định luôn đạt nhiều thành tích, trong 4 năm (2006 – 2010) liên tục dẫn đầu toàn quốc về tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông. Đã và đang đầu tư xây dựng bệnh viện đa khoa 700 giường, năm 2010 có 40% làng, khu dân cư, 75% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá, 70% cơ quan, trường học đạt nếp sống văn hoá, tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch khu vực nông thôn 83%, khu vực thành phố đạt 100%... Công tác đảm bảo an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm.  Đời sống nhân dân có tiến bộ nhiều mặt, nhất là dân cư nông thôn. Chương trình Mục tiêu quốc gia về giảm nghèo và Nghị quyết 10 của Tỉnh ủy, các chính sách về ưu đãi hộ nghèo, vùng nghèo, được thực hiện tốt, hoàn thành chương trình hỗ trợ xây mới, sửa chữa và xóa nhà dột nát. Hoàn thành tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo, tổ chức bình xét tại cơ sở, tổng hợp kết quả đảm bảo tính chính xác, nghiêm túc và công bằng, kịp thời tổng kết báo cáo số liệu về Trung ương phục vụ xây dựng chính sách giảm nghèo trong giai đoạn mới. 1.1.3. Tình hình sản xuất Sản xuất công nghiệp phát triển với tốc độ khá cao: Toàn tỉnh hiện có 3.285 doanh nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 20,5%/ năm (trong công nghiệp địa phương tăng 23,2%). Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP tăng dần, năm 2010 đạt 36,5%. Quy hoạch 12 khu công nghiệp, giải quyết việc làm trên 120 nghìn lao động… Sản xuất nông nghiệp ổn định và có bước phát triển: Giá trị sản xuất bình quân tăng 3,8%, năng suất lúa bình quân đạt 118,4 tạ/ha/năm. Sản lượng lương thực bình quân đạt 950 nghìn tấn/năm. Năm 2010 sản lượng thịt hơi đạt 110 nghìn tấn, sản lượng thủy sản đạt 89 nghìn tấn. Xã Hải Đường (Hải Hậu) thí điểm mô hình nông thôn mới theo chỉ đạo của trung ương và 10 xã trong tỉnh triển khai thí điểm xây dựng nông thôn mới. Các ngành dịch vụ tăng trưởng ổn định. Thu ngân sách năm 2010 đạt 1.150 tỷ đồng (chỉ tiêu 1.000 tỷ đồng). Tổng giá trị xuất khẩu năm 2010 đạt 230 triệu USD. Cơ cấu kinh tế năm 2010 chuyển dịch theo hướng: Nông, lâm, thủy sản: 29,5%, công nghiệp – xây dựng: 36,5%, dịch vụ: 34%... Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 còn 6%... Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản Năm 2010, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh Nam Định đạt 15.734ha, trong đó, nuôi nước ngọt là 9.520ha, nuôi mặn lợ 6.214ha. Cùng với diện tích nuôi được mở rộng, các cơ sở sản xuất con giống thủy hải sản cũng phát triển mạnh. Toàn tỉnh hiện có 46 trại sản xuất giống (TSXG) thuỷ sản, trong đó có 24 TSXG hải sản, 22 TSXG thủy sản nước ngọt. Năm 2010, Trung tâm giống hải sản, Trung tâm giống thủy đặc sản tỉnh cùng với các cơ sở sản xuất con giống thuỷ sản khác trên địa bàn tỉnh đã sản xuất được 212 triệu con tôm giống các loại; 172,5 triệu con ngao giống; 14,3 triệu cua C1; 1 tỷ 725 triệu con giống hàu và tu hài; 15 triệu con cá rô đồng và 1,3 tỷ con cá bột cung cấp kịp thời cho các vùng nuôi trong tỉnh. Hàng năm Trung tâm cung cấp ra thị trường trong tỉnh và một số tỉnh, thành phố như: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa… hơn 100 triệu con cá bột, cá hương các loại. 1.1.4. Các hoạt động chủ yếu của trung tâm 1.1.4.1. Cơ sở vật chất Trung tâm giống thủy đặc sản tỉnh Nam Định nằm trong hệ thống giống Quốc gia theo quyết định số 865/QĐ-NC ngày 23/10/1996 của Bộ thủy sản. Tổng diện tích của Trung tâm là 7,3 ha, trong đó có 6,5 ha mặt nước. Hệ thống ao nuôi cá bố mẹ được xây bờ chắc chắn gồm 15 ao có diện tích trung bình 2.000 m2, hệ thống ao ương gồm 12 ao xây bờ chắc chắn có diện tích trung bình 800 m2, hệ thống cấp thoát nước riêng biệt. Khu sinh sản nhân tạo của trung tâm bao gồm: 01 bể đẻ, 06 bể ấp, bể chứa 250 m3, khu sản xuất giống công nghệ cao gồm 30 bể nuôi, diện tích 15 m3/bể. Nguồn nước sông Hồng được bơm chủ động, trang thiết bị máy móc chuyên dùng đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất nuôi trồng thủy sản...Năm 2010 Trung tâm nâng cấp với kinh phí khoảng 10 tỷ đồng. 1.1.4.2. Tổ chức bộ máy, nhân lực Trung tâm giống thủy đặc sản tỉnh Nam Định là đơn vị trực thuộc sự quản lý của Sở thủy sản Nam Định, được thành lập năm 1969. Ban đầu có tên là Trại sản xuất cá giống nước ngọt Nam Định, đến năm 1992 đổi tên thành Trại thực nhiệm Nam Định, năm 1994 đổi tên thành Trung tâm giống thủy đặc sản Nam Định Trung tâm hiện có 17 CBCNVC-LĐ trong đó có 07 cán bộ đại học, 01 cán bộ cao đẳng, 04 cán bộ trung cấp, 04 kỹ thuật viên và 01 cấp dưỡng. Về tổ chức bộ máy: Ban giám đốc: 02 người Tổ hành chính phục vụ có 04 người: kế toán, thủ quỹ, cấp dưỡng, phụ trách vật tư kế hoạch Tổ phụ trách sản xuất thực nghiệm: 11 người 1.1.4.3. Chức năng, nhiệm vụ * Chức năng: Trung tâm giống có chức năng hoạt động khoa học công nghệ về giống nuôi thủy sản trên địa bàn toàn tỉnh. Trung tâm giống vừa thực hiện nhiệm vụ của Trung tâm giống tỉnh, vừa đảm nhận nhiệm vụ của Trung tâm giống khu vực về nuôi thủy sản. * Nhiệm vụ: Nghiên cứu thực nghiệm, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nuôi thủy sản. Chọn lọc, lai tạo giống mới, thực hiện khu vực hóa giống, quản lý chất lượng giống theo tiêu chuẩn của ngành. Nuôi giữ, bảo quản giống gốc, giống thuần, giữ gìn và phát triển quỹ gen các loại thủy sản quý, có giá trị kinh tế cao. Đào tạo, tập huấn kỹ thuật về giống và kỹ thuật nuôi trồng thủy sản. Tổng kết những kinh nghiệm của nhân dân, phối hợp với Trung tâm khuyến ngư chuyển giao công nghệ tiên tiến vào sản xuất nuôi thủy sản tại các vùng trong tỉnh. Sản xuất, cung ứng cho nhân dân trong tỉnh và các tỉnh trong khu vực đàn cá bố mẹ hậu bị đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và các giống loài thủy đặc sản có chất lượng cao. 1.1.4.4. Nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ Trong những năm qua, Trung tâm giống thủy đặc sản tỉnh Nam Định đã sản xuất ổn định giống của các đối tượng cá truyền thống và thuần dưỡng, cho sinh sản thành công các giống cá quý hiếm như cá Lăng chấm, cá Quế, cá Chình nước ngọt, cá Rô đầu vuông… Năm 2005: Tổ chức sinh sản thành công cá chép lai 3 máu (V1) với ưu thế lớn nhanh, thịt ngon, mã đẹp, thích ứng rộng... Năm 2006: Tiếp tục cho sinh sản hàng loạt cá Rô phi đơn tính đực, mỗi cá thể nuôi thương phẩm nặng tới 0,7 - 0,8 kg với chất lượng thịt thơm ngon, chóng lớn, không có xương dăm Năm 2008: Thuần dưỡng, cho sinh sản nhân tạo thành công cá Lăng chấm, là loại cá quý hiếm trước kia chỉ khai thác trên sông Đà, sông Hồng phía thượng nguồn nước chảy xiết. Cũng trong năm 2008, Trung tâm đã nuôi thử nghiệm thành công cá Chình trên bể, mang lại hiệu quả kinh tế khá, nuôi thuần dưỡng cá Chày mắt đỏ đang có nguy cơ bị tuyệt chủng để tiến tới cho sinh sản nhân tạo, nghiên cứu sản xuất giống cua đồng và sản xuất thành công 10 triệu con cá Rô đồng giống cung cấp cho số hộ nuôi đang được nhân rộng và hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với nuôi cá truyền thống. Năm 2010: Tổ chức sinh sản thành công cá Rô đầu vuông Hậu Giang. Năm 2011: Sản xuất giống một số đối tượng cá cảnh ( cá Cỏ, cá Kiếm, cá Đỉnh hồng…). Năm 2011 và các năm tiếp theo, Trung tâm tiếp tục nuôi dưỡng thuần thục để cho sinh sản các giống thuỷ đặc sản hiện tại người nuôi đang rất cần như: Ba ba gai, ba ba trơn, Trắm đen, Lóc bông, cá Quả, Bống tượng, Chạch... Đặc biệt là hoàn chỉnh công nghệ để sản xuất hàng triệu con cá Lăng chấm giống mỗi năm, xây dựng quy trình nuôi cá Lăng chấm thương phẩm tại địa phương và sản xuất giống cá rô đầu vuông Hậu Giang. 1.1.4.5. Sản xuất giống, dịch vụ Đối với các loại cá truyền thống có năng suất trung bình: - Cá Chép: 5 vạn bột / 1 kg cá / năm - Cá Mè, cá Trắm: 7 - 9 vạn bột / 1 kg cá / năm - Cá Mrigan, Rôhu: 12 - 14 vạn bột / 1 kg cá / năm Trong năm 2010 Trung tâm đã sản xuất hơn 70 triệu con giống thuỷ sản các loại, trong đó có: - Trên 35 triệu con cá truyền thống, - 25 triệu con cá chép V1. - 10 triệu con cá rô đồng vuông Hậu Giang - 7 vạn con cá Rô phi đơn tính đực - 5 nghìn con cá Lăng chấm Trung tâm phấn đấu sản xuất 100 triệu con cá bột, 150 vạn cá hương và 2,5 tấn cá hậu bị chất lượng tốt. Đặc biệt năm 2011, các loại giống đặc sản chất lượng được Trung tâm tập trung sản xuất lớn như cá rô đầu vuông Hậu Giang, cá Lăng chấm, cá chép lai 3 máu (V1)... cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh. 1.1.5. Đánh giá chung 1.1.5.1. Thuận lợi Ban lãnh đạo luôn quan tâm chú ý, đầu tư sản xuất, đáp ứng công tác đào
Luận văn liên quan