Đề tài Thực trạng pháp luật Việt Nam về cổ phần trong quá trình thành lập và hoạt động của công ty cổ phần

Điều 15 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận: “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”. Thể chế hóa những quy định này, đã có rất nhiều loại hình doanh nghiệp được phép thành lập, hoạt động với nhiều chế độ sở hữu khác nhau. Các công ty mới được thành lập trên thực tế với số lượng đáng kể, trong đó CTCP là một loại hình doanh nghiệp được rất nhiều nhà đầu tư, kinh doanh lựa chọn. Bởi đây là loại hình công ty có nhiều ưu thế như: Khả năng tích tụ tập trung vốn cao và linh hoạt, khả năng luân chuyển vốn tốt, mô hình quản lý tiên tiến Chính việc phát triển loại hình CTCP đã tạo điều kiện xã hội hóa hoạt động huy động vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh và góp phần quan trọng vào việc phát triển TTCK nâng cao hoạt động của nền kinh tế. So với các nước trên thế giới thì CTCP ở Việt Nam ra đời muộn hơn. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986, nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đường lối đổi mới từ Đại hội VI do Đảng Cộng Sản lãnh đạo đã khơi dậy sức mạnh to lớn của dân tộc đem lại những thành tựu có ý nghĩa vô cũng quan trọng, tạo ra những tiền đề đưa đất nước bước sang thời kỳ mới: Thời kỳ đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Từ khi có nền kinh tế thị trường, CTCP ở Việt Nam mới dần dần xuất hiện và được điều chỉnh trong LCT 1990. Trong những năm gần đây, nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CTCP. LDN 1999 cũng có những ghi nhận về CTCP. Kế thừa những thành tựu và khắc phục những hạn chế của hai luật trên, LDN 2005 đã tiến một bước lớn trong việc hoàn chỉnh hơn nữa những quy phạm pháp luật về loại hình doanh nghiệp này. Tuy nhiên, với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế, thì loại hình doanh nghiệp là CTCP ngày càng lớn mạnh và chiếm ưu thế trên thị trường. Do đó, việc nghiên cứu pháp luật về CTCP và vấn đề CP sao cho đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thực tế, là việc làm cấp thiết hiện nay nhằm đáp ứng được yêu cầu của hoạt động kinh doanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

doc57 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Lượt xem: 2106 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thực trạng pháp luật Việt Nam về cổ phần trong quá trình thành lập và hoạt động của công ty cổ phần, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Điều 15 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận: “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”. Thể chế hóa những quy định này, đã có rất nhiều loại hình doanh nghiệp được phép thành lập, hoạt động với nhiều chế độ sở hữu khác nhau. Các công ty mới được thành lập trên thực tế với số lượng đáng kể, trong đó CTCP là một loại hình doanh nghiệp được rất nhiều nhà đầu tư, kinh doanh lựa chọn. Bởi đây là loại hình công ty có nhiều ưu thế như: Khả năng tích tụ tập trung vốn cao và linh hoạt, khả năng luân chuyển vốn tốt, mô hình quản lý tiên tiến……Chính việc phát triển loại hình CTCP đã tạo điều kiện xã hội hóa hoạt động huy động vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh và góp phần quan trọng vào việc phát triển TTCK nâng cao hoạt động của nền kinh tế. So với các nước trên thế giới thì CTCP ở Việt Nam ra đời muộn hơn. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986, nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đường lối đổi mới từ Đại hội VI do Đảng Cộng Sản lãnh đạo đã khơi dậy sức mạnh to lớn của dân tộc đem lại những thành tựu có ý nghĩa vô cũng quan trọng, tạo ra những tiền đề đưa đất nước bước sang thời kỳ mới: Thời kỳ đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Từ khi có nền kinh tế thị trường, CTCP ở Việt Nam mới dần dần xuất hiện và được điều chỉnh trong LCT 1990. Trong những năm gần đây, nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CTCP. LDN 1999 cũng có những ghi nhận về CTCP. Kế thừa những thành tựu và khắc phục những hạn chế của hai luật trên, LDN 2005 đã tiến một bước lớn trong việc hoàn chỉnh hơn nữa những quy phạm pháp luật về loại hình doanh nghiệp này. Tuy nhiên, với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế, thì loại hình doanh nghiệp là CTCP ngày càng lớn mạnh và chiếm ưu thế trên thị trường. Do đó, việc nghiên cứu pháp luật về CTCP và vấn đề CP sao cho đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thực tế, là việc làm cấp thiết hiện nay nhằm đáp ứng được yêu cầu của hoạt động kinh doanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Nói về CTCP, có lẽ đây không còn là một đề tài quá mới mẻ đối với giới nghiên cứu luật học. Đã nhiều bài viết, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ nói về vấn đề này. Trong đó, có thể kể đến như: “CTCP trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của thạc sỹ Đồng Ngọc Ba, giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội; “Quản trị CTCP theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Hà Vĩnh Châm; luận văn tốt nghiệp “Quy chế pháp lý về thành lập CTCP ở Việt Nam” của Chu Thị Phương Thảo; hay bài viết “Cấu trúc vốn của CTCP, các giải pháp nhằm hoàn thiện LDN năm 1999 dưới góc độ cấu trúc vốn” của tác giả Hoàng Thị Giang đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số tháng 7/2005……. Mỗi bài viết, đề tài nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của CTCP. Tuy nhiên, trong các đề tài đó chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về vấn đề CP trong CTCP. Nói về CTCP - đó là một loại hình doanh nghiệp quá quen thuộc trong thực tế, nhưng nói đến vấn đề CP trong CTCP - có lẽ không có nhiều người hiểu sâu sắc về nội dung này. Xuất phát từ mong muốn hiểu rõ hơn về bản chất của CP, nên em đã mạnh dạn chọn nội dung “ Thực trạng pháp luật Việt Nam về CP trong quá trình thành lập và hoạt động của CTCP” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ vấn đề CP trong CTCP dưới góc độ pháp lý, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về CP và CTCP để đảm bảo thực thi có hiệu quả trên thực tế. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là những vấn đề về CP của CTCP như: Khái niệm CP; các loại CP; vấn đề chào bán, chuyển nhượng, mua lại CP cùng thực tiễn áp dụng pháp luật về CP…. Lý luận về CTCP là một lĩnh vực kiến thức lớn liên quan đến cả vấn đề kinh tế và vấn đề pháp lý. Do đó, luận văn xác định phạm vi nghiên cứu của mình ở những nội dung sau: Đưa ra những vấn đề lý luận chung nhất về CP và CTCP có sự so sánh ưu, nhược điểm với một vài loại hình doanh nghiệp khác. Sau đó, luận văn tập trung nghiên cứu sâu vấn đề CP trong CTCP. Trên cơ sở đó phát hiện ra được những hạn chế, thiếu sót của pháp luật về CP để có hướng hoàn thiện phù hợp. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Để đạt được hiệu quả, luận văn dựa trên các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, logic, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Luận văn góp phần vào việc làm sáng tỏ yếu tố CP trong CTCP cả về lý luận và thực tiễn, đồng thời đánh giá được pháp luật Việt Nam về CP. - Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong một số trường hợp cụ thể. 7. Kết cấu của đề tài Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được cơ cấu thành ba chương với các nội dung cụ thể như sau: Chương 1: Khái quát chung về CTCP và CP. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về CP trong quá trình thành lập và hoạt động của CTCP. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và thực thi có hiệu quả pháp luật về CP và CTCP. CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CỔ PHẦN 1.1. Khái quát về CTCP 1.1.1. Khái niệm CTCP Sự ra đời, tồn tại và phát triển của CTCP gắn liền với nền kinh tế thị trường. Trong qua trình nghiên cứu về loại hình doanh nghiệp này các nhà nghiên cứu, các luật gia đã đưa ra nhiều cách định nghĩa về CTCP. Trong cuốn đại từ điển kinh tế thị trường của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có định nghĩa: “CTCP là một loại hình công ty mà toàn bộ vốn chia thành các CP có mức bằng nhau, CP phát hành công khai theo luật pháp bằng hình thức cổ phiếu và tự do chuyển nhượng. Trong công ty hữu hạn CP số cổ đông rất nhiều, tài sản cá nhân tách riêng khỏi tài sản công ty, trách nhiệm đối với các món nợ của công ty hạn chế ở mức bỏ vốn của từng người”. Định nghĩa này nhấn mạnh tính chất, cấu trúc vốn, tính chất đa thành viên và giới hạn chịu trách nhiệm trong CTCP. Đại từ điển kinh tế thị trường (tài liệu dịch để tham khảo của Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa Hà Nội, năm 1998), Trang 1947. Khái niệm CTCP ở Việt Nam được định nghĩa trong rất nhiều tài liệu khác nhau. Theo Từ điển thuật ngữ Luật học, Nhà xuất bản Tư pháp năm 2006 định nghĩa thì : “CTCP là công ty trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, nhỏ nhất gọi là CP. Các thành viên của công ty (cổ đông) có thể sở hữu một hoặc nhiều CP và chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi giá trị CP mà họ nắm giữ. Công ty có quyền phát hành CP rộng rãi trong công chúng để huy động vốn” . Định nghĩa này nhấn mạnh đến cấu trúc vốn cũng như chế độ trách nhiệm của thành viên. LDN 2005 là văn bản hiện hành trực tiếp điều chỉnh về CTCP, đã không đưa ra định nghĩa cụ thể mà chỉ đưa ra những dấu hiệu đặc trưng, cơ bản thể hiện bản chất, để nhận biết loại hình doanh nghiệp này. LDN 2005 định nghĩa như sau: 1. CTCP là doanh nghiệp trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng CP của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84 của luật này. CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn. Như vậy, qua phân tích trên có thể thấy CTCP là một loại hình doanh nghiệp đặc trưng cho công ty đối vốn với những đặc điểm riêng điển hình về vốn, về thành viên, về tư cách pháp nhân, chế độ chịu trách nhiệm và về cơ cấu tổ chức bộ máy. Khái niệm CTCP theo LDN 2005 là một khái niệm khá đầy đủ và phản ánh được bản chất của CTCP. Với định nghĩa này nội hàm của khái niệm CTCP được thể hiện một cách rõ ràng. CTCP là loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm sau: Thứ nhất: CTCP là loại hình doanh nghiệp đặc trưng cho công ty đối vốn. Các nhà đầu tư vào CTCP chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình với các khoản nợ. Điều này làm cho các nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực có rủi ro cao nhưng đem lại lợi nhuận lớn. Khi tham gia vào công ty, các cổ đông không quan tâm đến nhân thân của nhau mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp. Vì vậy, khi có một thành viên chết, mất năng lực hành vi dân sự, bị phá sản ở nơi công ty khác hoặc bị tù thì cũng không ảnh hưởng đến sự hoạt động và tồn tại của công ty. Công ty hoạt động một cách độc lập với thành viên của công ty. Các thành viên trong công ty có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài công ty một cách dễ dàng, góp phần làm cho số lượng cổ đông của công ty đông đảo và tăng khả năng huy động vốn. Tính chuyển nhượng dễ dàng này còn tạo điều kiện cho các nhà đầu tư không bị ràng buộc vào công ty khi không muốn đầu tư nữa hoặc rút vốn để đầu tư kinh doanh vào một ngành nghề khác. Thứ hai: CTCP là một pháp nhân được thành lập một cách hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản riêng độc lập với tổ chức cá nhân khác. Tài sản này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng chủ yếu hình thành từ nguồn vốn do các cổ đông góp và tách bạch với tài sản của cổ đông. Khi cổ đông góp vốn vào công ty, họ có quyền sở hữu một phần trong công ty tương ứng với giá trị CP mà mình nắm giữ. Với tư cách là một chủ thể pháp luật, CTCP nhân danh chính mình tham gia vào các quan hệ pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước các nghĩa vụ phát sinh bằng chính những tài sản của công ty. Thứ ba: CTCP là loại hình công ty có cấu trúc vốn mềm dẻo, linh hoạt mang tính xã hội hóa cao. Trong công ty có nhiều loại CP khác nhau, với những ưu thế riêng đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của nhà đầu tư. Với cấu trúc vốn đa dạng, dễ dàng chuyển nhượng tạo cho CTCP có khả năng huy động vốn lớn để đầu tư kinh doanh. Ngoài ra, CTCP còn được phát hành chứng khoán ra công chúng. Thứ tư: CTCP có cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý chặt chẽ. Trong cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý có sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa các bộ phận. Với quy định không hạn chế số lượng thành viên tối đa nên CTCP cần có một bộ máy quản lý chặt chẽ, để có thể kiểm soát kịp thời những hoạt động của CTCP, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Tính chặt chẽ trong cơ cấu tổ chức, điều hành giám sát công ty không chỉ được pháp luật Việt Nam quy định mà nó còn được ghi nhận trong hầu hết pháp luật doanh nghiệp của các nước trên thế giới. 1.1.2. Đặc trưng pháp lý của CTCP. Theo quy định của LDN 2005 thì CTCP có những đặc trưng pháp lý sau: - Về vốn: Vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là CP. Giá trị mỗi CP gọi là mệnh giá và được phản ánh trong cổ phiếu. Vốn điều lệ của công ty phải được thể hiện một phần dưới dạng CP phổ thông. Vốn điều lệ công ty có thể có một phần là CP ưu đãi.[16, Tr 161]. Người chủ sở hữu vốn CP được gọi là cổ đông. Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều CP. Trong CTCP không giới hạn số lượng thành viên tối đa, nên các nhà đầu tư khi có vốn đều có thể góp vốn vào CTCP. Ngoài ra, CTCP còn được phép phát hành cổ phiếu, trái phiếu do đó việc huy động vốn của công ty này rất dễ dàng. Có thể thấy đây là một điểm ưu việt hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, nguồn vốn ban đầu của doanh nghiệp xuất phát chủ yếu từ tài sản của một cá nhân và doanh nghiệp này lại không được phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào. Tài sản của doanh nghiệp tư nhân có được phụ thuộc vào khả năng, các mối quan hệ và tài ngoại giao của một mình chủ doanh nghiệp. Khả năng huy động vốn trong dân chúng của doanh nghiệp tư nhân bằng cách phát hành chứng khoán là không tồn tại. Trong CTCP, các cổ đông nếu không muốn nắm giữ phần vốn của mình thì có thể chuyển nhượng phần vốn đó cho chủ thể khác. Do đó, nhà đầu tư dễ dàng chuyển hướng đầu tư. Cổ đông của công ty góp vốn vào công ty và hưởng lãi hoặc chịu lỗ tương ứng với tỷ lệ vốn góp vào công ty. Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, những vấn đề về quản lý nội bộ, quyền lợi và nghĩa vụ của cổ đông trong CTCP được giải quyết căn cứ vào giá trị CP mà các cổ đông nắm giữ. Tuy nhiên, trong quá trình huy động vốn do được phép phát hành các loại chứng khoán, nên CTCP chịu sự quản lý giám sát chặt chẽ của pháp luật hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. Bởi ngoài tuân thủ quy định của LDN 2005 thì CTCP còn phải chấp hành đúng các quy định của LCK 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành về phát hành cổ phiếu. - Về thành viên trong công ty: Thành viên của CTCP gọi là cổ đông. Số lượng cổ đông thường lớn và không quen biết nhau. Số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa. Như vậy, quy định tổ chức có thể là thành viên công ty đã mở rộng thêm quyền tham gia góp vốn của các chủ thể, làm tăng đáng kể lượng vốn cho sản xuất kinh doanh của CTCP. Cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân. Tổ chức, cá nhân góp vốn làm thành viên có thể là người Việt Nam hoặc người nước ngoài. Sự ghi nhận này đã làm bình đẳng hơn quyền kinh doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Khẳng định thêm LDN 2005 là luật doanh nghiệp thống nhất, áp dụng cho tất cả các nhà đầu tư trên thị trường. Quy định về thành viên của CTCP cũng là một ưu thế so với các loại hình công ty và doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên - đúng như tên gọi chỉ có một thành viên duy nhất làm chủ. Còn công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có số lượng thành viên lớn hơn nhưng cũng không được vượt quá con số 50. Với quy định không giới hạn thành viên tối đa, đó là một lợi thế của CTCP trong việc thu hút nguồn vốn lớn và huy động những người có tài, những tổ chức có uy tín làm việc cho công ty. Tuy nhiên, chính vì không hạn chế số lượng thành viên tối đa, nên việc quản lý điều hành công ty có khó khăn hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. - Về tư cách pháp nhân: LDN 2005 quy định CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sở dĩ LDN 2005 ghi nhận đây là loại hình công ty có tư cách pháp nhân là bởi CTCP đáp ứng được đủ các điều kiện tại điều 84 Luật dân sự năm 2005 về pháp nhân. Theo quy định tại điều 84 thì: Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Được thành lập hợp pháp; 2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Không phải bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào cũng có tư cách pháp nhân. Do không có sự tách bạch giữa phần vốn, tài sản đưa vào kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân và phần tài sản còn lại thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, nên doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân. Với tư cách pháp nhân mà Luật doanh nghiệp mang lại CTCP sẽ hoạt động một cách độc lập, có tính tổ chức chặt chẽ, tài sản của công ty được tách bạch rõ ràng với tài sản của các cổ đông. Việc thay đổi cổ đông không ảnh hưởng đến sự tồn tại của CTCP. Chính vì vậy, CTCP có tính ổn định cao trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục ổn định và lâu dài. Đây cũng là một ưu điểm tạo ra cho CTCP có được sự thu hút mạnh mẽ và được ưa chuộng hơn so với các loại hình doanh nghệp khác. - Về cơ cấu tổ chức: CTCP có cơ cấu tổ chức được pháp luật quy định khá chặt chẽ, đảm bảo nhà nước quản lý được loại hình doanh nghiệp này, đồng thời bảo vệ tối đa quyền lợi ích của các chủ thể có liên quan. Trong CTCP có ĐHĐCĐ, HĐQT và giám đốc (tổng giám đốc). Ngoài ra, đối với CTCP có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số CP của công ty phải có ban kiểm soát. Quy định của LDN 2005 về sự tồn tại của ban kiểm soát là thích hợp, bởi trong CTCP quyền sở hữu và quyền quản lý là hoàn toàn tách bạch nhau. Khi tài sản không nằm trong túi của chính những người có tài sản, mà được trao cho một chủ thể khác quản lý, thì việc thành lập một cơ quan giám sát khối tài sản đó là công việc hoàn toàn hợp lý. - Về chế độ chịu trách nhiệm tài sản: Cổ đông trong CTCP chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Như vậy, các thành viên trong CTCP chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp của mình. Đây cũng được đánh giá là một ưu việt của CTCP so với các loại hình doanh nghiệp khác. CTCP do chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn nên có thể đầu tư kinh doanh trong những lĩnh vực thu lợi nhuận lớn nhưng mang tính rủi ro cao như chứng khoán, vàng, bất động sản……… Nếu kinh doanh thành công, công ty sẽ thu lại lợi nhuận lớn. Tuy nhiên, nếu gặp rủi ro thua lỗ mà tài sản công ty không đủ trả thì thành viên công ty cũng chỉ phải chịu trách nhiệm hết số vốn đã góp. Các chủ nợ sẽ bị thiệt thòi khi tài sản của công ty không đủ để thanh toán hết các khoản nợ của công ty. Quy định trên là hợp lý bởi đứng về phương diện sự tách bạch về tài sản thì các cổ đông không có quyền đối với tài sản của CTCP, nên họ không chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty và CTCP chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình. Cả CTCP lẫn chủ nợ của công ty đều không có quyền kiện đòi tài sản của cổ đông, trừ trường hợp cổ đông nợ công ty do chưa đóng đủ tiền góp vốn hoặc chưa thanh toán đủ cho CTCP số tiền mua cổ phiếu phát hành. 1.2. Cổ phần 1.2.1. Khái niệm cổ phần. CP ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự xuất hiện của CTCP. Thuật ngữ CP ngày nay được sử dụng một cách phổ biến trên thế giới. Ở những nước theo truyền thống dân luật, khái niệm CP được định nghĩa là đơn vị để phân chia quyền sở hữu công ty. Do đó, CP không có mối liên hệ đến vốn điều lệ của công ty. Giá trị thực của CP phụ thuộc vào khả năng phát triển của công ty cũng như nhu cầu đầu tư của xã hội vào công ty. Còn theo luật của một số nước Châu Âu khái niệm CP lại được định nghĩa như sau: Vốn điều lệ khi được chia nhỏ thành những phần bằng nhau thì mỗi phần đó gọi là CP, vì vậy CP là một phần của vốn điều lệ. Tuy nhiên, trong thực tế CP cũng phản ánh mức độ quyền sở hữu đối với công ty của một cổ đông nào đó. Cổ đông góp vốn vào CTCP bằng cách mua CP, khi mua CP người mua sẽ trở thành chủ sở hữu công ty. Việt Nam đã tiếp cận khái niệm CP theo hướng thứ hai, theo đó CP là một phần của vốn điều lệ. Nước ta đã có sự ghi nhận về vấn đề CP từ rất lâu, sự ghi nhận này tồn tại cùng với sự hình thành và phát triển của CTCP. Theo từ điển Luật học của nhà xuất bản (NXB) Tư pháp, năm 2006 thì: “CP là phần vốn điều lệ được chia ra làm nhiều phần bằng nhau”. Có thể hiểu CP thông qua ví dụ sau: CTCP có vốn điều lệ là 10 tỷ đồng. Số vốn đó được chia thành 1 triệu phần bằng nhau mỗi phần có giá trị 100.000 đồng thì từng phần có giá trị 100.000 đồng đó được gọi là một CP. Như vậy, khái niệm trên đã có sự tách biệt giữa các loại vốn và trong khái niệm CP nổi bật lên vai trò của vốn điều lệ. CP là một đại lượng được ghi nhận trong bản điều lệ của CTCP, đại lượng đó được căn cứ vào số lượng CP và vốn góp của các cổ đông. Có thể thấy CP ở đây là một khái niệm trừu tượng dùng để chỉ một loại tài sản vô hình. Trong từ điển Bách Khoa Việt Nam của trung tâm biên soạn từ điển Bách Khoa Việt Nam, năm 1995 cũng định nghĩa về CP như sau: “ CP là phần tư bản (vốn) bằng nhau mà mỗi thành viên (cổ đông) tham gia CTCP phải đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu”.
Luận văn liên quan