Luận văn Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh

Tham vấn học đường là một nghề khá non trẻ đối với Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Tham vấn học đường được bắt đầu hình thành và phát triển tại Sài Gòn vào trước năm 1975, nhưng sau ngày đất nước thống nhất thì hoạt động tham vấn học đường không còn được quan tâm, mãi đến giữa thập niên 90 của thế kỷ 20 thì hoạt động tham vấn học đường mới được xuất hiện trở lại bởi các nhà giáo dục tâm huyết và được mang tên là “tư vấn tâm lý học đường”. Đến năm 2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra thông tư số 2564/BGD&ĐTHSSV, ngày 4 tháng 4 năm 2005 và sau đó thông tư số 9971/BGD&ĐT-HSSV, ngày 28 tháng 5 năm 2005 với nội dung hướng dẫn việc đưa công tác tham vấn tâm lý và hướng nghiệp vào trường học. Vậy là sau hơn 10 năm đi vào hoạt động một cách tự phát, do những người có tâm huyết với công việc hỗ trợ tâm lý cho học sinh, đã tự thành lập trung tâm tư vấn và kết hợp với trung tâm khai thác điện thoại 1088 thành phố Hồ Chí Minh, thì hoạt động này đã bắt đầu đi vào nề nếp dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh đã có được một lượng khá lớn chuyên viên tham gia hoạt động tham vấn học đường, đồng thời cũng được xã hội công nhận.

pdf82 trang | Chia sẻ: duongneo | Lượt xem: 4066 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH _______________________ TRƯƠNG THANH CHÍ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG CÔNG TÁC THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh - 2011 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ________________________ TRƯƠNG THANH CHÍ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG CÔNG TÁC THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC Mã số: 60 31 80 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐOÀN VĂN ĐIỀU Thành phố Hồ Chí Minh - 2011 LỜI CẢM ƠN Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành đến quý thầy, cô của khoa Tâm lý – Giáo dục, phòng Sau đại học trường đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và quý thầy, cô được trường mời thỉnh giảng, đã hết lòng giảng dạy và tạo điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường. Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn sự cộng tác và nhiệt tình giúp đỡ của quý đồng nghiệp, quý thầy cô giáo đang công tác tại trường phổ thông và các em học sinh đã giúp tôi thực hiện đề tài. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư, Tiến sỹ Đoàn Văn Điều đã tận tình hướng dẫn, động viên và đồng hành cùng em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này. Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2011 Tác giả MỤC LỤC 0TLỜI CẢM ƠN0T............................................................................................................................. 3 0TMỤC LỤC0T .................................................................................................................................. 4 0TMỞ ĐẦU0T .................................................................................................................................... 6 0T1. LÍ DO CHỌN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU0T .............................................................................. 6 0T2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU0T ................................................................................................ 7 0T3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU0T ....................................... 7 0T4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU0T ............................................................................................ 7 0T5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU0T ................................................................................................ 7 0T6. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU0T .................................................................................................. 7 0T7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU0T ........................................................................................ 7 0TChương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN0T .................................................................................................... 9 0T1.1. Lược sử nghiên cứu vấn đề0T ............................................................................................... 9 0T1.1.1. Lược sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài0T ................................................................... 9 0T1.1.2. Lược sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam0T ..................................................................... 9 0T1.2. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu0T ......................................................... 10 0T1.2.1. Tham vấn0T ................................................................................................................. 10 0T1.2.2. Tham vấn và các khái niệm có liên quan0T .................................................................. 14 0T1.2.3. Tham vấn học đường0T ............................................................................................... 16 0T1.2.4. Khó khăn tâm lý0T ....................................................................................................... 18 0T1.2.5. Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường0T ............................................... 19 0T1.3 Lý luận về khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường0T ...................................... 19 0T1.3.1. Người làm công tác tham vấn học đường0T ................................................................. 20 0T1.3.2. Biểu hiện của khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn0T ........................................... 23 0T1.3.3. Biểu hiện khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường0T ................................ 25 0T1.3.4. Nguyên nhân gây nên khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường0T ............. 30 0TChương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU0T .................................................................................... 32 0T2.1. Thể thức và phương pháp nghiên cứu0T .............................................................................. 32 0T2.1.1. Cách soạn thang đo0T .................................................................................................. 32 0T2.1.2. Mẫu nghiên cứu0T ....................................................................................................... 32 0T2.2. Kết quả nghiên cứu.0T ........................................................................................................ 34 0T2.2.1. Kết quả nghiên cứu khảo sát trên giáo viên0T .............................................................. 34 0T2.2.2. Kết quả nghiên cứu khảo sát trên học sinh0T............................................................... 43 0T2.2.3. So sánh kết quả khảo sát từ người làm công tác tham vấn học đường0T ....................... 50 0TKẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ0T .................................................................................................. 63 0TKết luận0T ................................................................................................................................. 63 0TKiến nghị0T ............................................................................................................................... 65 0T ÀI LIỆU THAM KHẢO0T........................................................................................................ 67 0TPHỤ LỤC0T ................................................................................................................................. 71 MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Tham vấn học đường là một nghề khá non trẻ đối với Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Tham vấn học đường được bắt đầu hình thành và phát triển tại Sài Gòn vào trước năm 1975, nhưng sau ngày đất nước thống nhất thì hoạt động tham vấn học đường không còn được quan tâm, mãi đến giữa thập niên 90 của thế kỷ 20 thì hoạt động tham vấn học đường mới được xuất hiện trở lại bởi các nhà giáo dục tâm huyết và được mang tên là “tư vấn tâm lý học đường”. Đến năm 2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra thông tư số 2564/BGD&ĐT- HSSV, ngày 4 tháng 4 năm 2005 và sau đó thông tư số 9971/BGD&ĐT-HSSV, ngày 28 tháng 5 năm 2005 với nội dung hướng dẫn việc đưa công tác tham vấn tâm lý và hướng nghiệp vào trường học. Vậy là sau hơn 10 năm đi vào hoạt động một cách tự phát, do những người có tâm huyết với công việc hỗ trợ tâm lý cho học sinh, đã tự thành lập trung tâm tư vấn và kết hợp với trung tâm khai thác điện thoại 1088 thành phố Hồ Chí Minh, thì hoạt động này đã bắt đầu đi vào nề nếp dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh đã có được một lượng khá lớn chuyên viên tham gia hoạt động tham vấn học đường, đồng thời cũng được xã hội công nhận. Đến năm 2008, sở giáo dục thành phố Hồ Chí Minh trong công văn tuyển dụng giáo viên, lần đầu tiên có mục tuyển dụng giáo viên chuyên ngành “Tâm lý giáo dục” với mục đích cung cấp đội ngũ chuyên viên tham vấn học đường cho các trường phổ thông trung học. Nhưng sau khi giao nhân sự ngành tâm lý giáo dục về trường, thì họ không được trường phân công làm công tác tham vấn học đường như mong muốn ban đầu của sở, mà họ được phân công làm một số việc khác như: dạy “Giáo dục công dân”, làm công tác “Đoàn thanh niên”,. Về vấn đề đào tạo, tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có ba trường Đại học đào tạo về chuyên ngành “Tâm lý học” và “Tâm lý Giáo dục”, nhưng không có nơi nào đào tạo chuyên về “Tham vấn học đường”. Cho nên, hầu hết những người đang làm công tác này là tự học, tự nghiên cứu nên họ gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện công tác, đồng thời chưa có mạng lưới hỗ trợ chuyên môn cho họ. Bản thân là người trực tiếp làm công tác tham vấn học đường và cũng chưa được đào tạo chuyên môn về tham vấn học đường, nên cũng đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình công tác, dẫn đến hiệu quả công việc không cao. Cho nên chúng tôi đang cố tìm ra những nguyên nhân gây nên các khó khăn cho hoạt động này, để từ đó có biện pháp khắc phục. Nguyên nhân đầu tiên chúng tôi cho là có ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả trong công tác tham vấn học đường đó chính là khó khăn tâm lý. Từ những lí do nêu, trên chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh”. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Trên cơ sở khảo sát khó khăn tâm lý của người làm tham vấn trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh, đề tài đề xuất một số giải pháp cho công tác này. 3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tượng nghiên cứu Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh. 3.2. Khách thể nghiên cứu Người thực hiện công tác tham vấn học đường và học sinh tại thành phố Hồ Chí Minh. 4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Do chưa được đào tạo chuyên ngành và trang bị thật tốt về mặt nhận thức, thái độ, hành vi nghề nghiệp, nên đa số người làm công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh gặp một số khó khăn tâm lý trong hoạt động của họ. 5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Để đạt mục đích đề ra, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau: 3.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài. 3.2. Khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý của người thực hiện công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh. 3.3. Đề xuất một số giải pháp trong công tác của người thực hiện tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh. 6. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU Đề tài nghiên cứu một số khó khăn tâm lý của người thực hiện công tác tham vấn học đường cho học sinh trung học tại thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số giải pháp cho vấn đề đặt ra. 7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu Nghiên cứu các tài liệu được xuất bản, các trang thông tin điện tử và các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài. 7.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. Đây là phương pháp chủ yếu của đề tài, dùng để khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh. 7.3. Phương pháp đàm thoại (phỏng vấn) Tiến hành phỏng vấn những người làm tham vấn học đường có nhiều kinh nghiệm, đang công tác tại trường học và các trung tâm đang hoạt trong lĩnh vực tham vấn học đường đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. 7.4. Phương pháp thống kê toán học Dùng chương trình SPSS phiển bản 11.5 để xử lý số liệu. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Lược sử nghiên cứu vấn đề 1.1.1. Lược sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài Tham vấn học đường được hình thành phát triển vào đầu thế kỷ XX ở các nước như Mỹ, Canada, đánh dấu cho sự ra đời của hoạt động này là văn phòng hướng nghiệp do Frank Parsons thành lập năm 1908 tại Mỹ. Từ năm 1920 đến 1930, hoạt động tham vấn được mở rộng và đặc biệt nhấn mạnh sự phát triển cá nhân, xã hội và đạo đức. Từ những năm 1960, tham vấn học đường được chính thức công nhận với nhiệm vụ là tham vấn cho học sinh để giúp họ vượt qua khủng hoảng của lứa tuổi; xây dựng các chương trình tâm lý giáo dục nhằm giúp học sinh phát triển các kỹ năng xã hội cũng như ngăn chặn những tiêu cực trong học đường; cố vấn cho giáo viên, nhà quản lý và cha mẹ học sinh về các vấn đề của học sinh; làm cầu nối giữa nhà trường với cộng đồng [26, tr 64], [50, tr 365], [62, tr 6]. Từ những năm 1990 đến nay, các nghiên cứu về tham vấn học đường được quan tâm khá nhiều và phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả như Lapan và cộng sự (1997), Sink, C.A và cộng sự (2003), Peterson và cộng sự (1999), Grossman và cộng sự (1997), Hoag và Burlingame (1997), đã đóng rất lớn cho sự phát triển của ngành tham vấn học đường trên thế giới. Còn vấn đề nghiên cứu về các khó khăn tâm lý, qua quá trình tìm hiểu chỉ thấy các tác giả trên thế giới chủ yếu nghiên cứu về các khó khăn tâm lý trong học tập và phát triển của trẻ. Tác giả Mauricè Debesse nghiên cứu về khó khăn tâm lý của trẻ khi vào lớp một và tác giả người Pháp, Bianka Zozzo và cộng sự nghiên cứu khó khăn tâm lý của trẻ em khi chuyển từ mẫu giáo lên tiểu học. Như vậy, vấn đề nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường, trong giới hạn tiềm kiếm của người nghiên cứu chưa tìm thấy nghiên cứu nào trên thế giới nói về vấn đề này. 1.1.2. Lược sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam Ngành tham vấn học đường ở Việt Nam có thể được xem là non trẻ so với các nước như Mỹ, Canada, Úc, Pháp hay Nga, nhưng cũng được hình thành và phát triển từ trước những năm 1975 ở miền nam và đang lớn mạnh dần ở những năm gần đây. Công trình có thể cho là có đúc kết tất cả các nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến việc nghiên cứu về tham vấn học đường đó chính là của tác giả Huỳnh Mai Trang (2007) nghiên cứu “Thực trạng hoạt động tham vấn học đường tại các trường trung học ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh”. Các công trình nghiên cứu về khó khăn tâm lý có khá nhiều tác giả nghiên cứu. Nhóm tác giả Dương Thị Diệu Hoa, Vũ Khánh Linh, Trần Văn Thức (2007), nghiên cứu về “những khó khăn tâm lý của học sinh trung học phổ thông trong học tập và các mối quan hệ”; tác giả Nguyễn Thị Thiên Kim (2007), nghiên cứu về các “khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh”; tác giả Trần Thị Lệ Thu (2010), nghiên cứu về “thực trạng khó khăn tâm lý của sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội và nhu cầu có sự trợ giúp của chuyên gia tâm lý học đường” [26, tr 308]; tác giả Đồng Văn Toàn (2010), nghiên cứu về “những khó khăn tâm lý trong giao tiếp của lưu học sinh Lào đang học ở trường Cao đẳng Sư phạm Thừa Thiên Huế”; tác giả Đặng Thanh Nga (2010), nghiên cứu “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội”; tác giả Nguyễn Thị Vui (2010), nghiên cứu “Thực trạng trở ngại tâm lý trong học tập của học sinh tiểu học dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum”; tác giả Vũ Ngọc Hà (2010), có công trình nghiên cứu về “Khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp một qua thái độ đối với học tập”; tác giả Lê Mỹ Dung (2010), nghiên cứu “Thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 3 hiện nay”, còn một số tác giả khác cũng đã nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh. Tóm lại, các công trình nghiên cứu về “tham vấn học đường” và “khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập” đã được khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và công bố trong các hội thảo khoa học hoặc đăng trên các tạp chí chuyên ngành, nhưng nghiên cứu về “khó khăn trong hoạt động tham vấn học đường” thì người nghiên cứu trong quá trình tìm hiểu chưa tìm thấy công trình nào bàn đến. Nhưng thông qua những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã góp phần làm cơ sở định hướng cho người nghiên cứu thực hiện đề tài “Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh”. 1.2. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.2.1. Tham vấn Trên thế giới, khái niệm tham vấn (counseling) được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Một số tác giả nhấn mạnh ở khả năng tự nhận thức và tự thay đổi của người được tham vấn, thông qua sự trao đổi chia xẻ trong mối quan hệ tương tác của hoạt động tham vấn. Carl Roger (1952), đã mô tả tham vấn như là quá trình trợ giúp, khi tiếp xúc với nhà tham vấn trong một mối quan hệ an toàn, người được tham vấn (thân chủ) tìm thấy được sự thoải mái, chia xẻ và chấp nhận những trải nghiệm đã từng bị chối bỏ để hướng tới sự thay đổi. D.Bloccher (1966) cho rằng cho rằng, tham vấn là sự giúp đỡ thân chủ nhận thức được bản thân và những hành vi có ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, đồng thời trợ giúp họ xây dựng được hành vi có ý nghĩa, thiết lập được mục tiêu và phát triển những giá trị cho hành vi được mong đợi. J.Hunchinson Haney và Jacqueline L. (1999), cũng cho rằng tham vấn là mối quan hệ tương tác mà nhà tham vấn tập trung vào những trải nghiệm, cảm xúc, suy nghĩ và hành vi của thân chủ, để từ đó giúp họ khám phá, chấp nhận và đối mặt với chúng. Theo Hiệp hội các nhà tham vấn Hoa Kỳ (ACA, 1997) cho rằng: tham vấn là sự áp dụng nguyên tắc tâm lý, sức khỏe tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người thông qua các chiến lược can thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, cảm xúc, hành vi, tập trung vào sự lành mạnh, sự phát triển cá nhân, phát triển nghề nghiệp cũng như vấn đề bệnh lý. Vậy theo Hiệp hội các nhà tham vấn Hoa Kỳ, cũng xác định rằng quá trình tham vấn được hiểu như là một mối quan hệ tự nguyện giữa nhà tham vấn và thân chủ. Trong mối quan hệ này nhà tham vấn giúp thân chủ tự xác định và tự giải quyết vấn đề của mình. Những tác giả khác thì chú trọng vào sự can thiệp của nhà tham vấn trong tiến trình tương tác hướng đến việc giải quyết vấn đề của quá trình tham vấn. Theo Gustad J.W (1953), tham vấn là một quá trình học hỏi được thực hiện trong môi trường xã hội theo kiểu tương tác trực tiếp một – một. Trong quá trình tương tác này, nhà tham vấn là cá nhân có năng lực chuyên môn, kiến thức và kỹ năng tâm lý, sử dụng những phương pháp thích hợp để giúp thân chủ hiểu biết về bản thân mình, giúp họ đáp ứng nhu cầu và thực hiện mục tiêu trong điều kiện cho phép để trở nên hạnh phúc và sống có ích hơn trong xã hội mà họ đang tồn tại. Perez J.F (1965) cho rằng, tham vấn là quá trình tương tác giữa một bên là người làm công tác tham vấn được đào tạo, huấn luyện có nhiệm vụ đưa ra sự giúp đỡ bằng sự giao tiếp nồng hậu, đức tính kiên trì, thái độ tôn trọng và chân thành. Một bên là người được tham vấn tiếp nhận sự giúp đỡ của nhà tham vấn để trở nên hạnh phúc hơn và sống có ích hơn. Tương tự cách tiếp cận này còn có Richard Nelsson (1997) cho rằng mục tiêu của tham vấn là hướng tới thay đổi cách thức cảm nhận, suy nghĩ và hành động của con người để giúp họ tạo nên cuộc sống tốt đẹp hơn. Do đó, theo ông, tham vấn là một quá trình can thiệp giải quyết vấn đề với một mối quan hệ, một quá trình tương tác đặc biệt giữa người làm tham vấn và thân chủ. Ông cho rằng tham vấn có thể được sử dụng ở các cấp độ khác nhau: nó có thể là dạng hoạt động mang tính chuyên sâu của các nhà tâm lý học, cán sự xã hội, nhưng nó cũng có thể là một phần công việc của giáo viên, y tá hay điều dưỡng, các nhà tình nguyện viên. Việt Nam hiện nay, tham vấn được đề cập khá nhiều trên các bài báo, các bài tham luận tại các hội nghị, hội thảo và một số công trình sách dịch từ nước ngoài, các tài liệu tập huấn về tham vấn, một số đề tài thạc sĩ tâm lý học và giáo trình giảng dạy về tham vấn tâm lý. Trong nỗ lực nhằm phát triển hoạt động tham vấn trên cả bình diện lý luận và thực tiễn, các nhà khoa học đã nghiên cứu và tranh luận rất nhiều về thuật ngữ tham vấn. Sau đây là một số khái niệm về tham vấn đã được các tác giả Việt Nam đề cập đến và được tác giả Huỳnh Mai Trang (2007) [62, tr 20] tổng hợp. - Tham vấn là một mối quan hệ, một quá trình nhằm giúp đỡ thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác, nhận thức và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của họ. Khái niệm này nhấn mạnh khía cạnh tự giải quyết vấn đề, tự thay đổi của thân chủ. - Tham vấn là một tiến trình, trong đó, nhà tham vấn và thân chủ cùng tương tác, nh
Luận văn liên quan