Đề tài Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình

Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, là ngành sản xuất vật chất cơ bản của đời sống xã hội, đem lại lương thực, thực phẩm cho con người và nguyên liệu cho ngành công nghiệp. Việt Nam là một nước phát triển đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp đi lên sản xuất hàng hoá. Hiện nay, về căn bản nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, phần lớn lực lượng lao động tập trung ở nông thôn, trình độ sản xuất còn lạc hậu. Do vậy, đẩy nhanh sự phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở nước ta không chỉ là một tất yếu khách quan mà còn là một thuộc tính bên trong lâu dài của chính sự phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đẩy nhanh sự phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, sử dụng tăng cường hiệu quả các nguồn lực. Tìm kiếm các phương pháp tối ưu nhằm tạo động lực cho sự phát triển đột phá. Tăng nhanh khối lượng tỷ suất, giá trị nông sản hàng hoá, tạo sự tiến bộ vượt bậc về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội nông thôn, đáp ứng nhu cầu cấp bách trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước. Việt nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) mở ra nhưng khả năng, triển vọng phát triển mới đồng thời cũng đặt ra những thách thức cho nền nông nghiệp hàng hoá cả nước. Nước ta đang chú trọng đẩy mạnh phát triển các nông sản hàng hoá: Gạo, cao su, cà phê, chè, trong đó, cây sắn đóng vai trò quan trọng, vị trí đặc biệt trong nền sản xuất hàng hoá và được phân bố trên hầu hết các vùng sinh thái Việt Nam. Sắn (khoai mì) vừa là cây lương thực, thực phẩm vừa là nguyên liệu cho các nhà máy chế biến tinh bột, cồn Ethanol, đồng thời vừa là mặt hàng xuất khẩu. Sắn là cây dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, thích nghi với nhiều vùng sinh thái trong cả nước và phù hợp điều kiện kinh tế nông hộ. Điều này đã được khẳng định tại Hội nghị “Phát triển sản xuất sắn bền vững” cho các tỉnh phía Nam được Bộ NN & PTNT tổ chức vào ngày 18/12/2009, tại Thành phố Hồ Chí Minh

pdf84 trang | Chia sẻ: tranhieu.10 | Ngày: 24/07/2018 | Lượt xem: 1876 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Sự cần thiết khách quan của vấn đề nghiên cứu Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, là ngành sản xuất vật chất cơ bản của đời sống xã hội, đem lại lương thực, thực phẩm cho con người và nguyên liệu cho ngành công nghiệp. Việt Nam là một nước phát triển đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp đi lên sản xuất hàng hoá. Hiện nay, về căn bản nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, phần lớn lực lượng lao động tập trung ở nông thôn, trình độ sản xuất còn lạc hậu. Do vậy, đẩy nhanh sự phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở nước ta không chỉ là một tất yếu khách quan mà còn là một thuộc tính bên trong lâu dài của chính sự phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đẩy nhanh sự phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, sử dụng tăng cường hiệu quả các nguồn lực. Tìm kiếm các phương pháp tối ưu nhằm tạo động lực cho sự phát triển đột phá. Tăng nhanh khối lượng tỷ suất, giá trị nông sản hàng hoá, tạo sự tiến bộ vượt bậc về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội nông thôn, đáp ứng nhu cầu cấp bách trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước. Việt nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) mở ra nhưng khả năng, triển vọng phát triển mới đồng thời cũng đặt ra những thách thức cho nền nông nghiệp hàng hoá cả nước. Nước ta đang chú trọng đẩy mạnh phát triển các nông sản hàng hoá: Gạo, cao su, cà phê, chè, trong đó, cây sắn đóng vai trò quan trọng, vị trí đặc biệt trong nền sản xuất hàng hoá và được phân bố trên hầu hết các vùng sinh thái Việt Nam. Sắn (khoai mì) vừa là cây lương thực, thực phẩm vừa là nguyên liệu cho các nhà máy chế biến tinh bột, cồn Ethanol,đồng thời vừa là mặt hàng xuất khẩu. Sắn là cây dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, thích nghi với nhiều vùng sinh thái trong cả nước và phù hợp điều kiện kinh tế nông hộ. Điều này đã được khẳng định tại Hội nghị “Phát triển sản xuất sắn bền vững” cho các tỉnh phía Nam được Bộ NN & PTNT tổ chức vào ngày 18/12/2009, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đại ọc Kin h tế Hu ế 2Diện tích, năng suất, sản lượng sắn ở nuớc ta đã tăng liên tục từ năm 2000 (diện tích 234.900 ha, năng suất 8,66 tấn/ha, sản lượng 2.034.234 tấn) đến năm 2009 (diện tích 560.000 ha, năng suất 16,88 tấn/ha, sản lượng 9.452.800 tấn). Số lượng nhà máy, cơ sở chế biến sắn cũng ngày một tăng, đến nay có 60 nhà máy có qui mô công nghiệp và 285 cơ sở chế biến thủ công trên cả nước. So với 5 năm trước đã tăng gấp đôi về số lượng nhà máy và gấp 3 lần về công suất. Cây sắn ở nước ta đã trở thành cây lương thực quan trọng đứng thứ 3 sau cây lúa và ngô, vai trò của cây sắn nhanh chóng đang chuyển sang là cây nguyên liệu sản xuất nhiên liệu sinh học và là nguồn xuất khẩu với khối lượng lớn. Tuyên Hoá là một huyện miền núi nằm về phía Tây bắc tỉnh Quảng Bình. Là một vùng miền núi có điều kiện về đất đai thổ nhưỡng hết sức đa dạng, thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nhiều loại cây trồng. Cây sắn lại dễ trồng, ít kén đất, nên được trồng ở nhiều nơi trong huyện. Sản lượng, năng suất tăng lên hàng năm. Mặt khác, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình có nhà máy chế biến tinh bột sắn xuất khẩu là nơi bao tiêu phần lớn lượng sắn sản xuất ra của huyện. Việc sản xuất sắn theo hướng hàng hoá đã mang lại ý nghĩa to lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội huyện nói chung và nâng cao đời sống cho mỗi hộ gia đình nói riêng, ghóp phần nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm cho người dân, Tuy nhiên, việc phát triển sản xuất sắn hiện nay vẫn còn một số tồn tại như: Phá rừng trồng sắn, trồng sắn quảng canh cho năng suất thấp, sản phẩm chưa đa dạng, thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa thực sự ổn định, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, người dân còn bị động trong sản xuất, trồng không theo qui hoạch, Vì vậy, điều chỉnh và khắc phục kịp thời những tồn tại và thiếu sót kể trên để phát triển và sản xuất sắn bền vững là đòi hỏi cấp thiết hiện nay. Xuất phát từ những lí do thực tế ở địa phương tôi đã lựa chọn đề tài: “Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình” làm khoá luận tốt nghiệp của mình. 2. Mục đích nghiên cứu - Hệ thống hoá những vấn đề lí luận và thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ sắn. - Đánh giá thực trạng sản xuất, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất sắn hàng hoá, tình hình tiêu thụ sắn của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Tuyên Hoá. Đại học Kin h tế Huế 3- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tiêu thụ sắn của các hộ nông dân tại địa phương. 3. Phương pháp - Phương pháp duy vật biện chứng: Được vận dụng làm cơ sở phương pháp luận của đề tài. - Phương pháp điều tra thu thập số liệu Số liệu thứ cấp: Dựa vào báo cáo thống kê, các tài liệu đã điều tra, các tạp chí và công trình nghiên cứu Số liệu sơ cấp: Chúng tôi tiến hành điều tra chọn mẫu, chọn hộ điều tra, soạn thảo nội dung, biểu mẫu và hệ thống các câu hỏi và tiến hành phỏng vấn. Trên địa bàn huyện Tuyên Hoá có 19 xã và 1 thị trấn, tất cả các xã đều có hoạt động trồng sắn. Tôi chọn 2 xã có diện tích trồng sắn lớn của huyện và có địa hình tương đối đại diện cho các xã của huyện là xã Nam Hoá (vùng gò đồi), xã Thanh Hoá (vùng núi rẻo cao). Từ 2 xã đại diện, theo phương pháp chọn mẫu phân loại tiến hành điều tra 90 hộ trồng sắn. Với tổng số hộ trồng sắn của 2 xã đại diện là 2838 hộ. Địa bàn nghiên cứu Số hộ của mỗi xã Số hộ điều tra Số hộ % Số hộ % Nam Hoá 1225 56,17 51 56,67 Thanh Hoá 956 43,83 39 43,33 - Phương pháp phân tích thống kê: Dùng phương pháp phân tổ, so sánh để phân tích nội dung nghiên cứu. - Phương pháp hàm sản xuất Để phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đầu vào đến năng suất sắn của các nông hộ điều tra tôi sử dụng mô hình sản xuất Cobb – douglas, được ước lượng bằng phương pháp OLS, thực hiện trên phần mềm Excel. Mô hình hàm sản xuất Cobb – douglas có dạng như sau: Đại học Kin h tế Hu ế 4Y = DeXXXXAX   54321 54321 Trong đó: Y: Là năng suất sắn (tạ/sào) A: Hằng số. X1: Là lượng phân chuồng (kg/sào) X2: Là lượng phân đạm (kg/sào) X3: Là lượng phân kali (kg/sào) X4: Là lượng phân lân (kg/sào) X5: Công lao động (công/sào) D : Là biến giả (D = 1 nếu hộ sản xuất ở xã Nam Hoá, D = 0 nếu hộ sản xuất ở xã Thanh Hoá). αi, β: Các hệ số hồi quy cần ước lượng. (i = 1÷ 4) Hàm sản xuất Cobb-Douglas dưới dạng Logarit như sau: LnY = LnA + α1lnX1 + α2 lnX2+ α3 lnX3+ α4 lnX4 +α5 lnX5 + βD 4. Phạm vi nghiên cứu - Không gian: Huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tập trung chủ yếu ở 2 xã Nam Hoá và Thanh Hoá. - Thời gian: Phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn hàng ở huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình trong năm 2009.Đại học Kin h tế Hu ế 5PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1.1. Giá trị kinh tế của cây sắn * Giá trị dinh dưỡng của cây sắn Cây sắn cao 2-3 m, lá khía thành nhiều thùy, rễ ngang phát triển thành củ và tích luỹ tinh bột, thời gian sinh trưởng 6 đến 12 tháng, có nơi tới 18 tháng, tùy giống, vụ trồng, địa bàn trồng và mục đích sử dụng. Củ sắn tươi có tỷ lệ chất khô 38-40%, tinh bột 16-32%; chất protein, béo, xơ, tro trong 100g được tương ứng là 0,8-2,5 g, 0,2-0,3 g, 1,1-1,7 g, 0,6-0,9 g; chất muối khoáng và vitamin trong 100 g củ sắn là 18,8-22,5 mg Ca, 22,5-25,4 mg P, 0,02 mg B1, 0,02 mg B2, 0,5 mg PP. Trong củ sắn, hàm lượng các acid amin không đươc cân đối, thừa arginin nhưng lại thiếu các acid amin chứa lưu huỳnh. Thành phần dinh dưỡng khác biệt tuỳ giống, vụ trồng, số tháng thu hoạch sau khi trồng và kỹ thuật phân tích. Lá sắn trong nguyên liệu khô 100% chứa đựng đường + tinh bột 24,2%, protein 24%, chất béo 6%, xơ 11%, chất khoáng 6,7%, xanhthophylles 350 ppm (Yves Froehlich, Thái Văn Hùng 2001). Chất đạm của lá sắn có khá đầy đủ các acid amin cần thiết, giàu lysin nhưng thiếu methionin. Trong lá và củ sắn ngoài các chất dinh dưỡng cũng chứa một lượng độc tố (HCN) đáng kể. Các giống sắn ngọt có 80-110 mg HCN/kg lá tươi và 20-30 mg/kg củ tươi. Các giống sắn đắng chứa 160-240 mg HCN/kg lá tươi và 60-150 mg/kg củ tươi. Liều gây độc cho một người lớn là 20 mg HCN, liều gây chết người là 50 mg HCN cho mỗi 50 kg thể trọng. Tuỳ theo giống, vỏ củ, lõi củ, thịt củ, điều kiện đất đai, chế độ canh tác, thời gian thu hoạch mà hàm lượng HCN có khác nhau. Tuy nhiên, ngâm, luộc, sơ chế khô, ủ chua là những phương thức cho phép loại bỏ phần lớn độc tố HCN. * Giá trị kinh tế của cây sắn - Giá trị xuất khẩu Đại họ Kin h tế Hu ế 6Sắn là một trong ít các mặt hàng có khối lượng xuất khẩu cũng như kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh. Theo số lượng thống kê sơ bộ của Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công Thương), trong 7 tháng đầu năm 2009, cả nước đã xuất khẩu được 2,66 triệu tấn sắn và tinh bột sắn, đạt kim ngạch 408 triệu USD, tăng 4,4 lần về sản lượng so với cùng kỳ 2008. Xuất khẩu sắn những năm trước giữ một vị trí khá khiêm tốn trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu nhưng năm 2009 đã tăng nhanh và đem lại một khoản ngoại tệ không nhỏ cho đất nước. Theo Trung tâm Thống kê Tin học – Bộ NN&PTNT, 8 tháng đầu năm 2009, cả nước ước xuất khẩu được trên 2,7 triệu tấn sắn và các sản phẩm làm từ sắn. Kim ngạch xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn ước đạt 429 triệu USD, cao hơn nhiều so với kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng rau quả, hạt tiêu, chè. * Giá trị nông nghiệp, công nghiệp Sắn có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, thức ăn gia súc và lương thực thực phẩm. Củ sắn dùng để ăn tươi, làm thức ăn gia súc, chế biến sắn lát khô, bột sắn nghiền, tinh bột sắn, tinh bột sắn biến tính, các sản phẩm từ tinh bột sắn như bột ngọt, cồn, maltodextrin, lysine, acid citric, xiro glucose và đường glucose tinh thể, mạch nha giàu maltose, hồ vải, hồ giấy, colender, phủ giấy, bìa các tông (Hoàng Kim Anh, Ngô Kế Sương, Nguyễn Xích Liên 2004), bánh kẹo, mì ăn liền, bún, miến, mì ống, mì sợi, bột khoai, bánh tráng, hạt trân châu (tapioca), phụ gia thực phẩm, phụ gia dược phẩm, sản xuất màng phủ sinh học, chất giữ ẩm. Thân sắn dùng để làm giống, làm nấm, làm củi đun, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulô. Lá sắn ngọt là loại rau xanh giàu đạm rất bổ dưỡng và để nuôi cá, nuôi tằm. Lá sắn đắng ủ chua hoặc phơi khô để làm bột lá sắn dùng chăn nuôi lợn, gà, trâu, bò, dê v.v.Đại học Kin h tế Hu ế 7Sơ đồ 1: Công dụng của sắn 1.1.2. Đặc điểm sản xuất của cây sắn * Làm đất Đất trồng sắn nhất thiết phải được chuẩn bị kĩ trước khi trồng, các công việc bao gồm: Thu dọn rễ cây và tàn dư thực vật, san lấp mặt bằng, xử lí cỏ dại. Sắn cần đất tơi xốp, sâu để rể củ phát triển. Không lên luống theo chiều dọc của đất, nước sẽ rửa trôi đất màu. Việc chống xói mòn trên đất dốc trồng sắn là rất cần thiết, vì vậy việc trồng sắn trên đất dốc cần thực hiện các biện pháp sau: - Trồng theo đường đồng mức, lên luống vuông góc với độ dốc. - Trồng các băng cây chống xói mòn theo đường đồng mức Làm nấm Nguyên liệu công nghiệp Củi đun Ăn tươi Thức ăn gia súc Sắn lát khô Bột sắn nghiền Tinh bột sắn biến tính Sắn Làm giấy Thân sắn Củ sắn Ủ chua hoặc phơi khô: Nuôi lợn, gà, Lá tươi: nuôi cá, tằm Lá sắn Đại học Kin h tế Hu ế 8- Trồng xen cây họ đậu: Lạc, đậu xanh, đậu đen,cũng có tác dụng chống xói mòn, đồng thời làm tăng dinh dưỡng đất, giúp đất phục hồi độ phì sau khi trồng sắn, đây là việc cần phải làm lâu dài đối với các khu vực canh tác sắn. - Phủ bằng rơm rạ hoặc các phụ liệu khác sẵn có tại địa phương. * Khoảng cách Hàng cách hàng: 1m; cây cách cây: 0,7 – 0,8m Đất tốt và trung bình trồng với khoảng cách 1,0 x 1,0m, tương đương với 10.000 cây/ha, đất xấu trồng với khoảng cách 1,0 x 0,8m và 0,8 x 0,8m (tương đương 12.500 cây/ha và 16.000 cây/ha) * Chọn giống Giống sắn có năng suất cao: KM94, KM95, SM 037 – 26,và các giống có năng suất trung bình từ 28 – 30 tấn, hàm lượng tinh bột từ 28% - 30%, dạng cây gọn. Giống sắn lấy từ ruộng sản xuất tốt hoặc ruộng nhân giống riêng, cây sắn đạt 6 tháng tuổi. Cây sắn dùng làm giống phải khoẻ mạnh, không nhiễm sâu bệnh, nhặt mắt, loại bỏ những cây giống bị khô và trầy – xướt. * Thời vụ trồng Đất đỏ trồng vào mùa mưa (tháng 4 – tháng 5). Đối với đất xám nên chia thành 2 thời vụ để rải vụ và giảm áp lực về công lao động. - Vụ 1: Trồng từ tháng 4 – tháng 5 và thu hoạch vào tháng 1 – tháng 3 năm sau. Ở vụ này nên tranh thủ sớm khi đủ độ ẩm, khô hạn làm giảm khả năng mọc mầm của hom sắn. - Vụ 2: Trồng vào tháng 10 – tháng 11; thu hoạch vào tháng 9 – tháng 10 năm sau. Ở khu vực miền trung, thời vụ trồng sắn tốt nhất vào tháng 1, tháng 2 và thu hoạch vào tháng 11,12. * Bón phân cho sắn Phân bón cho sắn có thể điều chỉnh theo từng mức thâm canh. Tuy nhiên tỷ lệ phân bón N:P:K thích hợp cho sắn nên áp dụng : 1:0,5:1. Lượng phân bón cho 1 ha như sau: Đại học Kin h tế Hu ế 9Bảng 1: Liều lượng phân bón áp dụng cho sắn Mức thâm canh Đạm (kg/ha) Lân (kg/ha) Kali (kg/ha) N Urê P2O5 Lân super K2O KCl Mức thâm canh trung bình 80 174 40 235 80 134 Mức thâm canh cao 160 347 80 470 160 268 Bón lót: Toàn bộ phân hữu cơ, toàn bộ phân lân và rải phân theo hốc. Bón thúc 1: Sau khi trồng 25-30 ngày vơi ½ lượng đạm và ½ lượng kali, bón cách gốc 20-30 cm, kết hợp làm cỏ và xới vun nhẹ. Bón thúc 2: Sau khi trồng khoảng 80-90 ngày, với lượng đạm và kali còn lại kết hợp với làm cỏ và vun gốc. 1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất sắn Sắn có quy luật sinh trưởng, phát triển riêng và chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố. Phân chia các nhân tố ảnh hưởng thành 3 nhóm yếu tố chính: nhóm yếu tố tự nhiên, nhóm yếu tố sinh học và nhóm yếu tố kinh tế - xã hội. 1.1.3.1. Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên Sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất sắn nói riêng đều có đối tượng sản xuất là những cơ thể sống nên quá trình sản xuất sắn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Do đó, yếu tố tự nhiên là một trong những yếu tố quan trọng đầu tiên có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sản xuất sắn. Cây sắn có khả năng thích ứng cao với những điều kiện sinh thái khác nhau, có thể trồng được từ 30 vĩ độ Bắc đến 30 vĩ độ Nam và ở độ cao đến 2.500 mét. Cây có thể phát triển được ở vùng có lượng mưa từ 600 mm đến 1500 mm. Mặc dù chịu được hạn, nhưng năng suất giảm khi gặp hạn. Nhiệt độ thích hợp từ 15-29oC. Sắn có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, ngay cả những khu vực đất có độ phì thấp. 1.1.3.2. Nhóm các yếu tố sinh học * Giống: Giống có ảnh hưởng lớn đến tăng năng suất sắn. Giống đáp ứng được các yêu cầu của giống tốt: Có tỉ lệ sống cao, chống chịu lại sâu bệnh, chịu hạn, sẽ Đại học Ki h tế Hu ế 10 đóng góp đáng kể vào việc tăng năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Ngược lại một giống không tốt thì đây chính là yếu tố đầu tiên làm giảm năng suất sắn. Để có giống tốt phục vụ sản xuất thì đòi hỏi công tác tạo, chọn giống ngày càng phải nỗ lực hơn để đáp ứng nhu cầu của người dân. * Dinh dưỡng khoáng - Đạm: Cần cho sự tổng hợp protein, phát triển thân lá, tích lũy chất khô. Thiếu đạm cây kém phát triển, lá màu lục nhạt, hơi vàng ở ngọn. Muốn tăng năng suất phải bón đạm với liều lượng cao. Đặc biệt là các giống sắn cao sản lượng đạm phải sử dụng tương đối cao. - Lân: Là thành phần cấu tạo của tế bào sống, tham gia vào qúa trình tạo thành tinh bột. Cây sắn có thể thu hút lân trong đất ở nồng độ rất thấp để tạo nên năng suất cao so với nhiều cây trồng khác. Ở đất rất nghèo lân, bón phân lân làm tăng năng suất, tăng hàm lượng tinh bột trong củ. - Kali: Là nguyên tố đa lượng quan trọng nhất đối với cây sắn vì có tác dụng vận chuyển các chất tổng hợp được từ thân lá về rễ củ. Thiếu kali cây sẽ bé đi, lá già vàng và rìa lá gần đầu lá có màu nâu. - Phân hữu cơ: Bón phân hữu cơ cho sắn không những cải thiện được hàm lượng mùn trong đất mà còn cung cấp cho cây một phần dinh dưỡng như đạm, lân, kali và các nguyên tố vi lượng, đồng thời làm giàu vi sinh vật trong đất. Phân hữu cơ sử dụng cho sắn bao gồm phân chuồng, phân xanh đã được chế biến, ủ hoai mục ít nhất là một tháng. * Sâu bệnh: Sâu bệnh cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất sắn. Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm, gió mùa vừa thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhưng cũng là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phá hoại mùa màng. Một trong những loại bệnh thường thấy ở sắn và làm ảnh hưởng đến năng suất sắn là bệnh thối đọt, cháy lá. Một số vùng bệnh lan trên diện rộng gây tổn thất lớn cho các hộ trồng sắn. 1.1.3.3. Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội * Thị trường và giá cả: Phần lớn thị trường nông nghiệp mang tính cạnh tranh hoàn hảo hơn so với các thị trường khác. Vì vậy đã tạo ra môi trường cạnh tranh lành Đại học Kin h tế Hu ế 11 mạnh trong việc tạo vốn, sử dụng các thông tin, mua và bán các sản phẩm. Người trồng sắn chưa có khả năng cất giữ lâu dài các sản phẩm làm ra, tư thương thì lợi dụng ép giá, người dân lại ít nắm bắt được thông tin thị trường, do đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của người nông dân. Trong xu thế hội nhập vào nền kinh tế thế giới, sản phẩm sản xuất không chỉ sử dụng đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn phải phù hợp với nhu cầu thị trường thế giới. Tuy nhiên, thị trường nông sản nước ta vẫn còn bấp bênh giá cả không ổn định là một trong những yếu tố làm cản trở quá trình sản xuất nông nghiệp. Điều này có thể giải thích là do sản xuất nông nghiệp nước ta mang tính thời vụ sâu sắc, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, phương thức sản xuất còn lạc hậu, chất lượng sản phẩm chưa cao nên chưa cạnh tranh được với thị trường thế giới. Để đảm bảo lợi ích cho cả người mua lẫn người bán, ổn định hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện cho người dân chăm lo mở rộng sản xuất thì cả thị trường đầu ra và thị trường các yếu tố đầu vào cần phải được điều chỉnh một cách hợp lí, có định hướng tránh hiện tượng tự phát trong mạng lưới lưu thông. * Chính sách của nhà nước: Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước. Nhà nước đóng vai trò, vị trí quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Để phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn nói chung và sản xuất sắn nói riêng thì Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống chính sách, hỗ trợ nghiên cứu giống mới, ưu đãi về vốn giúp nông dân phát triển mở rộng theo hướng sản xuất hàng hoá, thực hiện tốt công tác khuyến nông, sẽ góp phần đáng kể làm tăng năng suất sắn, nâng cao thu nhập của người dân. * Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố cơ bản quyết định đến hiệu quả sản xuất. Cơ sở hạ tầng thấp kém: Giao thông đi lại khó khăn, thuỷ lợi không đảm bảo, là rào cản làm cản trở sự phát triển kinh tế nói chung và sản xuất sắn nói riêng. Vì khi cơ sở hạ tầng nông thôn thấp kém, người dân không có cơ hội giao lưu kinh tế với bên ngoài, không được tiếp xúc với thông tin về thị trường, sản phẩm làm ra không biết bán cho ai và bị ép giá. Hệ thống thuỷ lợi không đồng bộ khó đối phó với những biến động bất thường của tự nhiên. Ngược lại, cơ sở hạ tầng phát triển là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng nông thôn. Đại học Kin h tế Hu ế 12 1.1.4. Một số vấn đề chung về tiêu thụ 1.1.4.1. Khái niệm và đặc điểm của tiêu thụ nông sản Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá, là những cách thức, những con đường kết hợp hữu cơ giữa những người sản xuất và những trung gian khác nhau trong quá trình vận chuyển và phân phối hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng. Nông nghiệp là một ngành sản xuất sản xuất đặc thù của nền kinh tế quốc dân có nhiều điểm rất khác biệt so với các ngành sản xuất vật chất khác. Do vậy, sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp cũng mang tính đặc thù riêng - Sản phẩm của ngành nông nghiệp phần lớn là các sản phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người, trong đó chủ yếu là các sản phẩm lương thực thực phẩm. Trên thị trường tiêu dùng cuối cùng, cầu đối phần lớn các loại lương thực thực phẩm cơ bản là ít co giản theo giá. - Sản phẩm của ngành nô
Luận văn liên quan