Luận văn Giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay

Đã từ lâu, tệ nạn ma túy là một hiểm họa lớn của toàn nhân loại. Trong đó, nhiều quốc gia đang phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng do tệ buôn lậu ma túy và nghiện ma túy gây ra cho đời sống kinh tế - xã hội. Ma túy làm suy thoái nhân cách, phẩm giá con người, tàn phá cuộc sống gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt nguồn nhân lực và tài chính, lẽ ra phải được huy động cho việc phát triển kinh tế - xã hội, đem lại ấm no hạnh phúc cho mọi người. Nghiêm trọng hơn, ma túy là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lây nhiễm đại dịch thế kỷ HIV/AIDS trên toàn cầu. Do siêu lợi nhuận và lợi dụng tự do hóa thương mại, chính sách mở cửa thu hút đầu tư của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, bọn tội phạm ma túy tiến hành mở rộng phạm vi hoạt động sản xuất, buôn bán ma túy kết hợp với rửa tiền. Các nhóm vũ trang móc nối với bọn buôn lậu ma túy và khủng bố quốc tế để sản xuất ma túy làm nguồn tài chính phục vụ ý đồ chính trị và khủng bố quốc tế. Năm 2006, Hiệp định AFTA về tự do hóa thương mại giữa các nước ASEAN có hiệu lực, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đặc biệt là từ năm 2010, khi cộng đồng ASEAN xây dựng nhiều thiết chế trong quan hệ kinh tế, thương mại, du lịch con đường xuyên Á, hành lang kinh tế Đông - Tây mở, việc đầu tư, liên doanh, liên kết sản xuất, buôn bán, dịch vụ giữa các nước Đông Nam Á cùng các nước trên thế giới sẽ diễn ra rất sôi động. Đây là thời cơ thuận lợi để tội phạm ma túy lợi dụng hoạt động, làm gia tăng tình hình buôn bán và sử dụng ma túy ở trong nước. Tệ nạn ma túy đang diễn biến phức tạp ở các nước trong khu vực nói chung, ở Việt Nam nói riêng, hàng năm số người nghiện ma túy ở nước ta vẫn tăng bình quân 11%. Tính đến hết năm 2006, toàn quốc có khoảng 140.000 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, tăng hơn 50% so với năm 2000. Song song với những biện pháp quyết liệt chống tội phạm buôn bán ma túy, Nhà nước ta cũng đồng thời quan tâm đến việc tổ chức cai nghiện, giúp cho những người nghiện ma túy có thể cắt cơn, phục hồi sức khỏe, hành vi và nhân cách để có thể tái hòa nhập cộng đồng. Công tác cai nghiện phục hồi tuy đạt được một số kết quả bước đầu, nhưng tính hiệu quả và sự bền vững còn hạn chế, tỷ lệ tái nghiện còn cao. Tạo việc làm cho người nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi là một trong những biện pháp quan trọng có ý nghĩa cả về kinh tế và xã hội, nhằm giúp đối tượng trở về cuộc sống bình thường, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tệ nạn ma túy. Chủ trương này thể hiện rõ trong các văn bản chỉ đạo của Đảng và Chính phủ như Chỉ thị 33-CT/TW, Chỉ thị 06-CT/TW, Nghị quyết 06/CP của Chính phủ và gần đây nhất là Chỉ thị 21-CT/TW, ngày 26/3/2008 về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới. Trên thực tế, việc giải quyết việc làm cho người nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi còn nhiều hạn chế. Hàng năm, số đối tượng được tạo việc làm ở cộng đồng chỉ chiếm khoảng 10% số đối tượng được chữa trị, phục hồi. Ngoài những khó khăn khách quan của nền kinh tế thị trường, nguyên nhân của tình trạng này còn do nhận thức, trách nhiệm của chính quyền, đoàn thể ở các cấp chưa cao, đặc biệt là chính quyền cấp xã, cộng đồng, khu phố, thôn xóm ít quan tâm. Bản thân đối tượng và gia đình họ còn có tư tưởng ỷ lại xã hội, không nỗ lực tìm kiếm việc làm. Mặt khác, Nhà nước ta cũng chưa có cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích, huy động nhiều thành phần kinh tế - xã hội tham gia giải quyết việc làm cho đối tượng. Do vậy, dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất, tạo việc làm có thu nhập ổn định không những là một nội dung quan trọng của quy trình cai nghiện mà còn là yêu cầu thiết yếu, tạo điều kiện cho đối tượng tái hòa nhập cộng đồng, phòng chống tái nghiện có hiệu quả. Điều đó đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết ở nước ta hiện nay là cần có sự nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống vấn đề tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy để giúp họ thực sự tái hòa nhập cộng đồng và có cuộc sống yên ổn, trở thành người có ích cho xã hội. Để góp phần nhỏ bé vào yêu cầu chung đó, tôi chọn đề tài "Giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy ở nước ta hiện nay" làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý kinh tế.

doc120 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 01/06/2013 | Lượt xem: 3515 | Lượt tải: 30download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đã từ lâu, tệ nạn ma túy là một hiểm họa lớn của toàn nhân loại. Trong đó, nhiều quốc gia đang phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng do tệ buôn lậu ma túy và nghiện ma túy gây ra cho đời sống kinh tế - xã hội. Ma túy làm suy thoái nhân cách, phẩm giá con người, tàn phá cuộc sống gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt nguồn nhân lực và tài chính, lẽ ra phải được huy động cho việc phát triển kinh tế - xã hội, đem lại ấm no hạnh phúc cho mọi người. Nghiêm trọng hơn, ma túy là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lây nhiễm đại dịch thế kỷ HIV/AIDS trên toàn cầu. Do siêu lợi nhuận và lợi dụng tự do hóa thương mại, chính sách mở cửa thu hút đầu tư của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, bọn tội phạm ma túy tiến hành mở rộng phạm vi hoạt động sản xuất, buôn bán ma túy kết hợp với rửa tiền. Các nhóm vũ trang móc nối với bọn buôn lậu ma túy và khủng bố quốc tế để sản xuất ma túy làm nguồn tài chính phục vụ ý đồ chính trị và khủng bố quốc tế. Năm 2006, Hiệp định AFTA về tự do hóa thương mại giữa các nước ASEAN có hiệu lực, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đặc biệt là từ năm 2010, khi cộng đồng ASEAN xây dựng nhiều thiết chế trong quan hệ kinh tế, thương mại, du lịch… con đường xuyên Á, hành lang kinh tế Đông - Tây mở, việc đầu tư, liên doanh, liên kết sản xuất, buôn bán, dịch vụ giữa các nước Đông Nam Á cùng các nước trên thế giới sẽ diễn ra rất sôi động. Đây là thời cơ thuận lợi để tội phạm ma túy lợi dụng hoạt động, làm gia tăng tình hình buôn bán và sử dụng ma túy ở trong nước. Tệ nạn ma túy đang diễn biến phức tạp ở các nước trong khu vực nói chung, ở Việt Nam nói riêng, hàng năm số người nghiện ma túy ở nước ta vẫn tăng bình quân 11%. Tính đến hết năm 2006, toàn quốc có khoảng 140.000 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, tăng hơn 50% so với năm 2000. Song song với những biện pháp quyết liệt chống tội phạm buôn bán ma túy, Nhà nước ta cũng đồng thời quan tâm đến việc tổ chức cai nghiện, giúp cho những người nghiện ma túy có thể cắt cơn, phục hồi sức khỏe, hành vi và nhân cách để có thể tái hòa nhập cộng đồng. Công tác cai nghiện phục hồi tuy đạt được một số kết quả bước đầu, nhưng tính hiệu quả và sự bền vững còn hạn chế, tỷ lệ tái nghiện còn cao. Tạo việc làm cho người nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi là một trong những biện pháp quan trọng có ý nghĩa cả về kinh tế và xã hội, nhằm giúp đối tượng trở về cuộc sống bình thường, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tệ nạn ma túy. Chủ trương này thể hiện rõ trong các văn bản chỉ đạo của Đảng và Chính phủ như Chỉ thị 33-CT/TW, Chỉ thị 06-CT/TW, Nghị quyết 06/CP của Chính phủ và gần đây nhất là Chỉ thị 21-CT/TW, ngày 26/3/2008 về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy trong tình hình mới. Trên thực tế, việc giải quyết việc làm cho người nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi còn nhiều hạn chế. Hàng năm, số đối tượng được tạo việc làm ở cộng đồng chỉ chiếm khoảng 10% số đối tượng được chữa trị, phục hồi. Ngoài những khó khăn khách quan của nền kinh tế thị trường, nguyên nhân của tình trạng này còn do nhận thức, trách nhiệm của chính quyền, đoàn thể ở các cấp chưa cao, đặc biệt là chính quyền cấp xã, cộng đồng, khu phố, thôn xóm ít quan tâm. Bản thân đối tượng và gia đình họ còn có tư tưởng ỷ lại xã hội, không nỗ lực tìm kiếm việc làm. Mặt khác, Nhà nước ta cũng chưa có cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích, huy động nhiều thành phần kinh tế - xã hội tham gia giải quyết việc làm cho đối tượng. Do vậy, dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất, tạo việc làm có thu nhập ổn định không những là một nội dung quan trọng của quy trình cai nghiện mà còn là yêu cầu thiết yếu, tạo điều kiện cho đối tượng tái hòa nhập cộng đồng, phòng chống tái nghiện có hiệu quả. Điều đó đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết ở nước ta hiện nay là cần có sự nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống vấn đề tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy để giúp họ thực sự tái hòa nhập cộng đồng và có cuộc sống yên ổn, trở thành người có ích cho xã hội. Để góp phần nhỏ bé vào yêu cầu chung đó, tôi chọn đề tài "Giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy ở nước ta hiện nay" làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý kinh tế. 2. Tình hình nghiờn cứu liên quan đến đề tài Trong thời gian qua, ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề này, dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể nêu một số đề tài sau: Nhóm đề tài về việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường: - Đề tài cấp nhà nước 70A.02.02 "Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam", Trần Đình Hoan, Lê Mạnh Khoa, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991. - Đề tài cấp nhà nước KX-04-04: "Luận cứ khoa học cho chính sách giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần", của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Hà Nội, 1994. - Đề tài cấp Nhà nước KX-07-05-05: "Những đặc trưng và xu hướng biến đổi của cơ cấu xã hội nghề nghiệp nước ta trong giai đoạn hiện nay, dự báo và kiến nghị", do Tiến sĩ Nguyễn Đình Tấn - Giám đốc Trung tâm Xã hội học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, 1995. - Đề tài "Quản lý nhà nước về việc làm ở Hà Nội", Luận án tiến sĩ kinh tế Trần Văn Tuấn, Hà Nội, 1995. - "Thị trường sức lao động thực trạng và giải pháp" của Phó tiến sĩ Nguyễn Quang Hiển, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1995. - "Chiến lược việc làm và đào tạo nghề thời kỳ 2001 -2010" của Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Tạp chí Lao động xã hội, 2001. - Đề tài "Phát triển thị trường sức lao động, giải quyết việc làm qua thực tế ở Hà Nội", Luận án tiến sĩ kinh tế Đỗ Thị Xuân Phương, Hà Nội, 2005. Nhóm đề tài về tổ chức cai nghiện, quản lý sau cai nghiện và tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy: - "Kế hoạch tổng thể cai nghiện phục hồi, giai đoạn 2001 - 2010", Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, Hà Nội, 2002. - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố "Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý cai nghiện ma túy và sau cai" 02-X07 của Tiến sĩ Nguyễn Thành Công, Hà Nội, 2003. - Báo cáo "Sơ kết 3 năm thực hiện quyết định 151 của Thủ tướng Chính phủ về cai nghiện - phục hồi", Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hà Nội, 2004. - Báo cáo "Tổng kết công tác cai nghiện phục hồi, giai đoạn 2001 - 2005, phương hướng nhiệm vụ thời kỳ 2006 - 2010", Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, Hà Nội, 2006. - Tài liệu "Giới thiệu và hướng dẫn áp dụng mô hình cai nghiện có hiệu quả", Cục Phòng chống tệ nạn xã hội, Hà Nội, 2007. Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề này với những cách tiếp cận khác nhau. Có thể thấy rằng, các tài liệu đề cập chưa nhiều tới vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện, chưa có công trình khoa học nào đã công bố, tập trung nghiên cứu vấn đề tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Tuy vậy, nghiên cứu các công trình đã công bố đó, tôi cũng tham khảo được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn rất có giá trị đối với đề tài của mình. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những vấn đề đã được nghiên cứu trong các công trình khoa học đó, kết hợp với khảo sát thực tế ở một số địa phương, tôi có thể rút ra một số vấn đề lý luận để đề xuất giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy ở nước ta hiện nay. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận văn là góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về tác động tiêu cực của tệ nạn ma túy tới đời sống kinh tế - xã hội, sự cần thiết phải tổ chức và quản lý sau cai nghiện ma túy và đề xuất giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: - Hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về ma túy, sử dụng ma túy, cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; lý luận về hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau cai nghiện, góp phần hạn chế và khắc phục tác động tiêu cực của tệ nạn ma túy đối với kinh tế - xã hội. - Phân tích, đánh giá thực trạng hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy ở nước ta. - Xác định quan điểm và đề xuất các giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy ở nước ta hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố tác động tới tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy, trọng tâm là cách thức tổ chức quản lý, cơ chế, chính sách của cơ quan quản lý nhà nước các cấp trong hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: đề tài nghiên cứu về vấn đề hỗ trợ tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy có hồ sơ quản lý sau cai nghiện trên phạm vi cả nước. - Về thời gian: nghiên cứu thực trạng hỗ trợ tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy từ năm 2001 đến năm 2007; đề xuất giải pháp cho những năm tiếp theo. - Về nội dung: tập trung nghiên cứu số liệu tổng hợp của các cơ quan quản lý có liên quan về hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy và tiến hành khảo sát các mô hình điểm ở một số địa phương trong cả nước. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Cơ sở lý luận Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối và chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Các lý thuyết về tệ nạn xã hội và tội phạm của E. Durkheim, W. Weber… và vấn đề việc làm. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Dựa trên các tài liệu nghiên cứu đã có, số liệu tổng hợp, thống kê và một số đề tài nghiên cứu khoa học, điều tra khảo sát của Cục phòng chống tệ nạn xã hội - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, của Văn phòng Thường trực phòng chống ma túy - Bộ Công an, cũng như các báo cáo tổng kết của địa phương, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, khái quát hóa đồng thời tiến hành một số cuộc điều tra khảo sát tại các trung tâm, phường, xã nhằm mục đích minh họa. 6. Ý nghĩa của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận Đề tài góp phần phân tích và làm rõ những vấn đề cơ bản về ma túy, sử dụng ma túy, cai nghiện ma túy, nguyên nhân và tác hại của sử dụng ma túy, tái nghiện, quản lý sau cai nghiện, tái hòa nhập cộng đồng và hỗ trợ tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy. Hệ thống các giải pháp khả thi, hiệu quả cho người sau cai nghiện nhằm nhân rộng các mô hình trong cả nước. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nghiên cứu hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn về tạo việc làm cho người sau cai nghiện, phù hợp với điều kiện, và tình hình ở mỗi địa phương, góp phần đẩy mạnh công tác phòng chống ma túy, làm giảm tỷ lệ tái nghiện và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nói chung. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết. Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MA TÚY, VIỆC LÀM VÀ HỖ TRỢ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA TÚY . MA TÚY VÀ TÁC HẠI CỦA NGHIỆN MA TÚY ĐỐI VỚI KINH TẾ - XÃ HỘI . Một số khái niệm liên quan đến ma túy * Ma túy Thuật ngữ "ma túy" xuất hiện ở Việt Nam ban đầu có ý nghĩa là chỉ thuốc phiện, về sau còn được hiểu là các cây cần sa, cô ca và các loại thuốc tân dược gây nghiện khác. Có ý kiến giải thích thuật ngữ "ma túy" đó là vì các chất này có tác dụng như ma thuật, ma quái. Nó chữa được một số bệnh có hiệu quả cao và làm tăng hưng phấn hoặc ức chế thần kinh, đồng thời làm cho con người mê mẩn, ngây ngất và túy lúy. Và như vậy, thuật ngữ "ma túy" được ghép từ các từ ma thuật, ma quái và túy lúy. Chương trình kiểm soát ma túy quốc tế của Liên hợp quốc (UNDCP) năm 1991 đã xác định: "Ma túy là những chất độc có tính gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo khi xâm nhập và cơ thể con người thì có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng" [67]; theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), "Ma túy là bất kỳ chất gì mà khi đưa vào cơ thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơ thể" [67]. Từ các quan niệm nêu trên, có thể nêu khái niệm như sau: ma túy là những chất có nguồn gốc từ tự nhiên hay nhân tạo và khi dùng không được chỉ dẫn có thể gây nghiện, làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người cũng như sự ổn định và phát triển của cộng đồng. * Nghiện ma túy Khi dùng ma túy lần đầu, người ta thấy có cảm giác lâng lâng, dễ chịu và thèm muốn dùng lại. Ma túy vào cơ thể vài lần sẽ tác động đến cơ quan cảm thụ, gây trạng thái quen thuốc, nếu không dùng tiếp sẽ rất khó chịu, đau đớn, vật vã…, thèm muốn được dùng lại và trở nên nghiện ma túy. Do đó, nghiện ma túy, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì đó là tình trạng một bộ phận trong xã hội gồm những người có thói quen dùng các chất ma túy. Còn theo nghĩa hẹp thì nghiện ma túy là sự lệ thuộc của con người cụ thể đối với các chất ma túy, làm cho con người ta không thể quên và từ bỏ được ma túy. Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về "nghiện ma túy", nhưng chưa có một khái niệm đầy đủ và thống nhất. Tuy nhiên, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), "nghiện ma túy là trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính có hại cho cá nhân và xã hội do dùng lặp lại một chất ma túy tự nhiên hay tổng hợp" [67]. Tổ chức DAYTOP quốc tế định nghĩa: nghiện ma túy là tình trạng rối loạn cơ thể con người về các mặt sinh lý, tâm lý, nhận thức và hành vi do người đó sử dụng lặp đi lặp lại một hoặc nhiều loại ma túy từ tự nhiên hay tổng hợp. * Người nghiện ma túy Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần dưới các hình thức khác nhau như hút, hít, tiêm chích và bị lệ thuộc vào các chất này. Từ khái niệm nghiện ma túy có thể rút ra cách hiểu về người nghiện ma túy như sau: người nghiện ma túy là người bị lệ thuộc đối với các chất ma túy và không thể quên hay từ bỏ được ma túy. Nếu ngừng sử dụng thì người nghiện sẽ xuất hiện hội chứng cai. Như vậy, có thể hiểu người nghiện ma túy theo các cách định nghĩa khác nhau, nhưng điểm cơ bản là người sử dụng lặp lại nhiều lần một chất ma túy tự nhiên hay tổng hợp và bị lệ thuộc vào nó, không thể quên hay từ bỏ được nó. * Cai nghiện ma túy Đó là biện pháp giúp người nghiện ma túy thông qua chữa trị để từ bỏ ma túy, phục hồi sức khỏe tinh thần và tái hòa nhập cộng đồng. Thực chất "cai nghiện ma túy" là quá trình giải quyết sự rối loạn ba yếu tố của người nghiện (trạng thái sinh lý, tâm lý, nhận thức và hành vi). Liên hợp quốc đưa ra định nghĩa: cai nghiện là một biện pháp tổng hợp gồm các tác động về y học, pháp luật, giáo dục học, đạo đức… nhằm điều trị giúp người nghiện ma túy cắt các hội chứng cai nghiện, phục hồi sức khỏe và tái hòa nhập xã hội. * Tái nghiện ma túy Quá trình nghiện ma túy đã tạo cho người nghiện luôn có phản xạ nhạy cảm với ma túy, nên dù đã cắt cơn nhưng có thể sau 4 - 5 năm, hễ cứ nhìn thấy ma túy, ngửi hơi ma túy, tiếp xúc với người nghiện, thậm chí nói đến tên loại ma túy quen dùng, là cơn thèm khát ma túy lại bùng lên dữ dội, khó có thể kiềm hãm được. Vì vậy, khi ra khỏi các trung tâm cai nghiện, người cai trở lại sống với gia đình và cộng đồng, chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xã hội còn chưa trong sạch ma túy dẫn đến khả năng tái sử dụng ma túy là rất cao. Việc tái sử dụng ma túy chính là tái nghiện ma túy và theo PGS,TS Nguyễn Xuân Yêm thì: Tái nghiện được hiểu là một đối tượng nghiện ma túy đã được gia đình, chính quyền, các đoàn thể tại địa phương giúp đỡ, giáo dục, chữa trị cai nghiện để trở lại cuộc sống bình thường trong xã hội. Thế nhưng vì một lý do nào đó họ đã không kiềm chế được những ham muốn cá nhân, những suy nghĩ lệch lạc nên lại tiếp tục sử dụng các loại chất ma túy, người ta gọi trường hợp này là tái nghiện [70]. Ranh giới giữa tái sử dụng ma túy (tái nghiện) và dứt khoát đoạn tuyệt với ma túy là rất mong manh. Chính vì vậy, công việc phòng, chống tái nghiện khi người cai hòa nhập cộng đồng là một việc làm tất yếu phải được thực hiện. . Nguyên nhân của nghiện và tái nghiện ma túy Nghiện và tái nghiện ma túy là một hiện tượng xã hội tiêu cực xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nguyên nhân nghiện Nguyên nhân chủ quan do lối sống buông thả, ăn chơi, đua đòi. Đó vừa là nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy, vừa là một nguyên nhân của tái nghiện. Người nghiện vốn do có lối sống sai lệch, nhiều thói quen xấu nên mắc vào nghiện ngập và trở thành thói quen khó bỏ, thậm chí khi đã cai nghiện được một thời gian ở trung tâm trở về tái hòa nhập cộng đồng, người nghiện vẫn giữ những thói quen đó. Thói quen sử dụng ma túy lại càng khó từ bỏ đối với người nghiện bởi ma túy đã ăn sâu vào não người nghiện mà trong thời gian ngắn chưa thể xóa hết được. "Thực tế cho thấy đã có những người cai được trong thời gian từ 20 - 30 năm nhưng vẫn tái nghiện trở lại" [66]. Môi trường tái hòa nhập cộng đồng của người nghiện vẫn còn những điều kiện xấu tồn tại xung quanh và nếu lối sống lành mạnh không đủ sức hút thì khả năng tái nghiện là rất lớn, thậm chí việc tái nghiện hoàn toàn có thể xảy ra. Nguyên nhân khách quan do môi trường xã hội. Hiện nay khả năng cung về ma túy vẫn rất lớn, chúng ta chỉ ngăn chặn, bắt giữ được một lượng rất nhỏ, còn lại hầu hết ma túy vẫn đang trôi nổi, tồn tại trong xã hội, nó luôn sẵn sàng đáp ứng cho người có nhu cầu. Bọn tội phạm tiếp tục buôn bán cái chết trắng vẫn hiện diện khắp nơi. Chừng nào còn những tên tội phạm này - kể cả bọn buôn ma túy xuyên biên giới với số lượng tính bằng hàng chục, hàng trăm kg hê rô in lẫn bọn bán lẻ từng tép thì khó có thể nói đến việc ngăn chặn tình trạng tái nghiện, càng không thể ngăn ngừa những con người thiếu bản lĩnh trở thành những con nghiện mới. Những con nghiện mới xuất hiện và trở thành gánh nặng và nỗi khổ đau cho nhiều gia đình và xã hội Ma túy mang lại những món siêu lợi nhuận cho người buôn bán nó. Chính vì vậy, đã có rất nhiều kẻ bất chấp luật pháp, đạo đức để lao vào phạm tội buôn bán ma túy. Lực hút của đồng tiền từ buôn bán ma túy đã khiến cho nhiều kẻ không cần để ý đến những hình phạt cao nhất mà luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của mỗi nước dành cho tội phạm về ma tuý. Lợi dụng điểm yếu là sự lệ thuộc vào ma túy của những người nghiện ma túy vẫn chưa hết khi họ từ trung tâm cai nghiện trở về tái hòa nhập cộng đồng nên bọn buôn bán ma túy tìm mọi cách rủ rê, lôi kéo để người nghiện sau cai phải tái sử dụng ma túy, với hình thức ban đầu là cho không thuốc nhưng khi đã nghiện lại thì chúng bắt phải mua hoặc phải giúp chúng tiêu thụ ma túy. Nguyên nhân tái nghiện Nguyên nhân chủ quan từ bản thân người nghiện. Tái nghiện có xảy ra hay không xảy ra được quyết định trực tiếp, cuối cùng bởi người nghiện sau cai. Tại sao những người đã có hiểu biết về tác hại của ma túy qua quá trình trải nghiệm của bản thân, qua sự giáo dục, tư vấn tại các trung tâm lại dễ dàng nghiện trở lại các chất ma túy? Nguyên nhân thuộc về người nghiện bao gồm: + Bị lệ thuộc về tâm lý vào các chất ma túy: Quá trình nghiện ngập trước khi đi cai ở các trung tâm đã gây ra sự rối loạn cho người nghiện ma túy cả về thể chất cho đến nhận thức, hành vi, hay chính là mất cân bằng cả về thể chất và tinh thần. Cai nghiện ma túy giúp cho người nghiện từ bỏ được hội chứng cai, loại bỏ một phần sự mất cân bằng chứ không xóa được sự lệ thuộc về tâm lý, ý thức. Hành vi sử dụng lại các chất ma túy là biểu hiện rõ ràng nhất sự lệ thuộc đó, nó giống như một phương thức mà người nghiện tìm đến để xóa đi trạng thái mất cân bằng. Sau khi cai, cách suy nghĩ, hành vi của người nghiện vẫn còn bị ảnh hưởng rất đậm nét bởi ma túy. Theo nhận định của hội đồng chuyên viên về lạm dụng ma túy của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì: Sự lệ thuộc vào chất ma túy trước hết v

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLuan van - chinh thuc1.doc
  • docBia - ThS1.doc
  • docCam doan.doc
  • docMuc luc1.doc